Thành phố Hồ Chí Minh: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao bền vững

HÀ PHẠMdientu@hanoimoi.com.vn

 07:01 thứ sáu ngày 01/10/2021

 (HNM) – Ngành Nông nghip thành ph H Chí Minh được định hướng phát trin không chy theo s lượng hay din tích canh tác mà chú trng ng dng công ngh hin đại để to sn phm giá tr ln. Vì vy, thành ph đã và đang có nhiu gii pháp thúc đẩy phát trin nông nghip công ngh cao theo hướng bn vng.

Mô hình trồng rau thủy canh tại Hợp tác xã Nông nghiệp Tuấn Ngọc (thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh).

Kết qu đáng khích l

Hợp tác xã Hoa lan Huyền Thoại (xã An Nhơn Tây, huyện Củ Chi) là một trong những mô hình điểm của địa phương về phát triển nông nghiệp đô thị. Hợp tác xã đang trồng khoảng 800.000 gốc lan Mokara trên diện tích 25ha. Giám đốc Hợp tác xã Đặng Lê Thị Thanh Huyền chia sẻ: “Chúng tôi áp dụng công nghệ nuôi cấy mô, kiểm soát được thời điểm thu hoạch. Hoa lan được chăm sóc bằng hệ thống tự động tưới tiêu nước, đặt trong nhà lưới để giữ ẩm và nhiệt độ. Với mô hình này hợp tác xã thu lãi 1,3 tỷ đồng/năm”.

Cũng tại huyện Củ Chi, mô hình chăn nuôi bò sữa, nuôi lợn bằng công nghệ cao cũng cho kết quả tích cực. Phó Chủ tịch UBND huyện Củ Chi Lê Đình Đức cho biết, toàn huyện hiện có khoảng 500 con bò sữa được nuôi theo mô hình ứng dụng công nghệ cao; khoảng 830 hộ chăn nuôi lợn được cấp giấy chứng nhận VietGAP với 16.000 con bảo đảm chất lượng sản phẩm, mang lại hiệu quả cao về kinh tế.

Còn mô hình trồng rau thủy canh của Hợp tác xã Nông nghiệp Tuấn Ngọc (phường Long Trường, thành phố Thủ Đức) chỉ qua 2 năm hoạt động diện tích canh tác đã tăng từ 1.000m2 lên hơn 7.000m2, cho thu hoạch 800-1.000kg/ngày, với tiêu chuẩn VietGAP. Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Tuấn Ngọc Lâm Ngọc Tuấn cho hay: “Quy trình sản xuất rau của chúng tôi theo công nghệ từ Israel, cho ra sản phẩm rau sạch, giá trị cao phục vụ người tiêu dùng”. Anh Trần Văn Sang, xã viên hợp tác xã cho biết, dù bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng hợp tác xã vẫn tạo việc làm cho 30 lao động, thu nhập trung bình 6 triệu đồng/người/tháng.

Theo Phó Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Hoàng, dù bị dịch Covid-19 gây khó khăn không nhỏ nhưng ngành Nông nghiệp thành phố tiếp tục chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, tập trung vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, giúp năng suất lao động nông nghiệp tăng bình quân 21%/năm. Tốc độ tăng trưởng ngành Nông nghiệp thành phố giai đoạn 2016-2020 là 5,82%/năm…

Phát trin nông nghip đô th, hin đại, bn vng

Tuy đạt được những thành quả đáng khích lệ, nhưng theo Sở NN&PTNT thành phố Hồ Chí Minh, việc ứng dụng công nghệ cao vào nông nghiệp của thành phố chưa tương xứng tiềm năng; chưa có sự gắn kết giữa nhà khoa học với đơn vị sản xuất… Trong khi đó, quỹ đất phát triển nông nghiệp công nghệ cao ngày càng bị thu hẹp; thiếu nhân lực đáp ứng yêu cầu. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Dương Hoa Xô, nguyên Giám đốc Trung tâm Công nghệ sinh học thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, thành phố cần quy hoạch quỹ đất dành cho xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao, ưu đãi thu hút nhà đầu tư…

Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Hồ Chí Minh Đinh Minh Hiệp thông tin, thành phố đang tập trung tháo gỡ những khó khăn trên, trước mắt chú trọng phát triển sản xuất giống cây con chất lượng cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng và năng suất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Năm 2021, ngành Nông nghiệp thành phố phấn đấu tăng trưởng 2-2,5%; giá trị sản xuất bình quân đạt 630-650 triệu đồng/ha; có chứng nhận VietGAP cho 76% diện tích trồng rau; 72% số hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả… Kinh tế nông nghiệp thành phố dần chuyển dịch sang nông nghiệp đô thị, công nghệ cao.

Theo lộ trình đến năm 2030, thành phố phấn đấu nâng tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 75-85% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp; trên 70% hộ nông dân và hơn 80% doanh nghiệp ứng dụng các biện pháp kỹ thuật công nghệ cao; trên 30% hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao… Đặc biệt, thành phố sẽ nâng cấp, mở rộng và sử dụng hiệu quả 4 khu nông nghiệp công nghệ cao. Cụ thể, tại huyện Cần Giờ sẽ phát triển diện tích thả nuôi giống thủy sản nước mặn/lợ có quy mô gần 90ha. Còn huyện Củ Chi phát triển khu trồng trọt, công nghệ bảo quản sau thu hoạch quy mô hơn 23ha; trồng trọt, thủy sản quy mô 200ha; giống gia súc, chế phẩm sinh học phục vụ chăn nuôi quy mô 200ha. Song song, thành phố sẽ đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Võ Văn Hoan nhấn mạnh: “Ngành Nông nghiệp thành phố phấn đấu đến năm 2030 đưa giá trị gia tăng trên một đơn vị sản xuất đất nông nghiệp đạt từ 900 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp 2 đến 2,5 lần so với giai đoạn 2010-2019. Giá trị giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao sẽ cao hơn các giống, sản phẩm thông thường 6-8%, thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị, hiện đại, bền vững”.

Nhân bài phỏng vấn Bộ trưởng NN-PTNT Lê Minh Hoan: Những đáp án từ thực tiễn

Báo Sài Gòn Giải Phóng số ra ngày 11-10 có bài phỏng vấn Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan, với tiêu đề: Nông nghiệp là thước đo sự bền vững của quốc gia. Bài phỏng vấn tuy ngắn nhưng Bộ trưởng Lê Minh Hoan đã khéo léo nêu bật những vấn đề rất cơ bản mà thực tiễn nền nông nghiệp nước ta đang đặt ra bức bách.

Gieo sạ lúa bằng máy tại tỉnh Hậu Giang

Trả lời câu hỏi của phóng viên, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nhắc lại một câu đầy ý nghĩa: “Nhất sĩ, nhì nông… Hết gạo chạy rong nhất nông nhì sĩ”. Thực tế đây là một chân lý mà nhiều người lắm khi quên. Chân lý là ai cũng phải ăn, phải cần thực phẩm và thực phẩm mấy ngàn năm đến giờ vẫn từ nông sản, thủy hải sản. Vậy nhưng như một thói quen, nhiều người lại không mấy bức xúc cho thực tế của nền nông nghiệp. Từ sau Đổi mới 1986 đến nay, đã 35 năm, nông nghiệp là ngành ít thay đổi nhất, so công nghiệp hay dịch vụ. Lý do: thiếu đầu tư các nguồn lực. Về nguồn nhân lực, có đến 90% nông dân chưa được đào tạo. Khoa học công nghệ thì không vào được với nền sản xuất nhỏ, ruộng đất manh mún, làm ăn riêng lẻ, cá thể. Còn văn hóa giải trí nhằm nâng cao dân trí thì… cứ xem hoạt động của các thư viện, tủ sách và các nhà văn hóa thôn xã thì sẽ rõ: đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn quá nghèo nàn! 

Nhiều nhà khoa học và nhà quản lý nhà nước vẫn xác định: Nông nghiệp là “trụ đỡ” của nền kinh tế và xã hội. Bộ trưởng Lê Minh Hoan băn khoăn: nói trụ đỡ đã thỏa đáng chưa? Tôi cũng băn khoăn như thế. Nhớ lại ông cha ta có câu “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng”. Đại dịch Covid-19 làm bộc lộ điểm yếu của tổ chức xã hội ta (và cả thế giới) là không phải “hết gạo chạy rong” mà nước ta thừa gạo trong khi dân thiếu đói, bởi vì chuỗi cung ứng bị đứt gãy, giao thông vận tải bị phong tỏa. Nhân dân không yên tâm, an sinh xã hội không ổn. Dân không ổn tức là nền tảng xã hội không ổn định những khi có biến cố nghiêm trọng như thiên tai hay địch họa. Vậy cần phải thừa nhận vai trò và sứ mệnh của nông nghiệp là nền tảng kinh tế – xã hội.  

Bộ trưởng Lê Minh Hoan khi còn lãnh đạo tỉnh đã nghe các bộ chất vấn “sao còn nông nghiệp nhiều quá!”. Chắc đó là các ý kiến đề cập cơ cấu kinh tế trong mối quan hệ 3 khu vực I, II, III (Nông nghiệp, Công nghiệp, Dịch vụ) một cách duy ý chí. Vấn đề nông nghiệp ĐBSCL là năng suất lao động thấp, thu nhập bình quân đầu người thấp (trong khi nông dân rất giỏi sản xuất đặc biệt là lúa gạo, một nông dân có khả năng canh tác từ 3-10ha, thậm chí 20ha lúa nếu có trang bị kỹ thuật tốt, ứng dụng công nghệ tiên tiến) và quan trọng nhất là thiếu đất canh tác (bình quân mỗi người khoảng 0,5ha), hay đúng hơn là chưa có hợp tác để tập trung tích tụ ruộng đất. Đến mùa thu hoạch nông dân chỉ bán nguyên liệu thô, còn chuỗi giá trị sau thu hoạch thì để thị trường khai thác thu lãi tối đa, nhất là nước ngoài. 

Đại dịch Covid-19 cũng làm nổi bật tình trạng lực lượng sản xuất phân bổ tự phát, thiếu chủ động của Nhà nước. Trong bài phỏng vấn, phóng viên Báo Sài Gòn Giải Phóng có câu hỏi rất hay mà cũng rất khó: “Có nên giữ chân người nông dân ở lại nông thôn không?”.

Theo quy luật kinh tế, những vùng có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn, nhiều cơ hội việc làm hơn và có thu nhập cao hơn, ổn định hơn thì người lao động sẽ đến nơi đó làm việc. Mặt khác, khi năng suất lao động tăng lên thì số lượng lao động cần thiết trực tiếp làm nông nghiệp phải giảm xuống. Số lượng lao động dôi ra từ nông nghiệp là nguồn bổ sung tự nhiên cho các lĩnh vực hoạt động xã hội, đầu tiên là cho công nghiệp và thương mại dịch vụ. Các nước phát triển đều thiếu lao động. Nước ta cũng sẽ thiếu lao động. Cho nên nguồn lực lao động là “lực lượng sản xuất bậc nhất”, rất quý, sẽ không còn lang thang đi tìm việc tận nước ngoài như bây giờ. Trong tình hình hiện nay chỉ có thể giải quyết cơ bản vấn đề ổn định dân cư và lao động bằng cách phân bổ lại lực lượng sản xuất trên toàn vùng: tạo việc làm cho lao động đến nơi có kinh tế phát triển, công nghiệp phát triển, kéo theo dịch vụ phát triển. 

Ở Nam bộ, trước tiên Nhà nước cần đầu tư phát triển liên kết hạ tầng kỹ thuật giao thông vận tải liên vùng, mà trọng tâm là xây dựng tuyến đường sắt tốc độ cao, hiện đại (150-200km/giờ; khổ 1,435m) từ TPHCM về ĐBSCL và tiếp theo là đi miền Trung. Khi lưu thông hàng hóa thông suốt, cước phí thấp, vận tải ngày đêm liên tục đến cảng biển hoặc nơi tiêu thụ trong cả nước nhanh chóng và hành khách đi lại an toàn, đúng giờ, thuận tiện, thì các doanh nghiệp không chỉ tập trung ở TPHCM mà sẽ đến các vùng khác, vào các khu công nghiệp dọc tuyến đường sắt (theo mô hình đường sắt hiện đại – TOD) để gần vùng nguyên liệu và vận tải hàng hóa dễ dàng mà hoạt động sản xuất kinh doanh, người lao động sẽ ở lại quê mình và vào các cơ sở sản xuất gần chỗ ở, ít tốn kém.

Như vậy, việc bố trí lại lực lượng sản xuất xã hội vừa có tác động của Nhà nước vừa theo quy luật thị trường sẽ đem lại giải pháp khả thi và chủ động.

Vai trò lịch sử của hộ nông dân bung ra từ sau Đổi mới (1986) là vô cùng to lớn, nhưng đến nay tình trạng hộ gia đình sản xuất nhỏ, manh mún không còn phù hợp. Ta chủ trương “công nghiệp hóa nông nghiệp” nhưng không mạnh dạn “xã hội hóa ruộng đất” – tư liệu chủ yếu của sản xuất nông nghiệp – là không thỏa đáng, không nắm khâu then chốt, không đúng quy luật, nên rất khó “công nghiệp hóa” được. Vấn đề là hình thức xã hội hóa nào phù hợp.

PHẠM CHÁNH TRỰC

Nhân giống sâm cau bằng nuôi cấy mô

Cây sâm cau, loại dược liệu quý, được nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật, có thể trồng đại trà số lượng lớn

Sau 2 năm nghiên cứu và trồng thử nghiệm, Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao (TP HCM; gọi tắt là Trung tâm) đã hoàn thiện và chuyển giao quy trình nhân giống cây sâm cau (curculigo orchioides) bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật; quy trình trồng và chăm sóc để lấy củ sâm cau làm dược liệu cho nhiều địa phương.

Thành tựu của khoa học – công nghệ cao

Cây sâm cau tên khoa học là curculigo orchioides gaetn, thuộc họ sâm cau (hypoxidaceae). Cây phân bố ở một số tỉnh phía Nam Trung Quốc, Lào, Việt Nam và một vài nước Đông Nam Á khác. Từ năm 1996, sâm cau đã được đưa vào danh mục đỏ cây thuốc Việt Nam, do bị khai thác cạn kiệt (“Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam”).

Cây sâm cau in vitro tại phòng nuôi cấy của Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao. Ảnh: HỒNG THỦY

Việc nhân giống cây sâm cau ngoài tự nhiên chủ yếu từ hạt hoặc thân cây. Ở các tỉnh miền núi, người dân chủ yếu lấy cây non ngoài tự nhiên về trồng. Tuy nhiên, khó khăn của nhân giống truyền thống là hạt có tỉ lệ nảy mầm thấp. Còn nhân giống bằng thân, mỗi cây giống phải có một phần củ và phần ngọn mới bảo đảm cây có thể sống. Tuy nhiên, do mỗi cây sâm cau chỉ hình thành một củ, vì vậy hệ số nhân giống cũng rất thấp. Việc sử dụng kỹ thuật nhân giống in vitro (trong ống nghiệm) khắc phục được những hạn chế nêu trên, giúp tạo ra lượng lớn cây giống sạch bệnh trong thời gian ngắn.

Nhằm góp phần bảo tồn và phát triển cây sâm cau tại Việt Nam, Trung tâm đã hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây dược liệu quý này từ nguồn mẫu lá. Mẫu lá non sâm cau sau khi rửa sạch dưới vòi nước, đem khử trùng với thủy ngân 0,1% trong 5 phút, được cắt thành những mảnh nhỏ có kích thước khoảng 1 cm và đặt trên môi trường cảm ứng tạo chồi trực tiếp hoặc thông qua con đường tạo sẹo để tạo chồi và nhân chồi. Môi trường này chứa thành phần khoáng cơ bản là MS có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng BA với nồng độ thích hợp. Sau đó, chồi non sẽ được cấy chuyền qua môi trường tạo rễ để tái tạo cây sâm cau hoàn chỉnh.

Cây sâm cau in vitro được trồng để lấy củ làm dược liệu. Ảnh: HỒNG THỦY

Cây con in vitro đủ tiêu chuẩn, sau quá trình huấn luyện nhằm cho cây thích nghi với điều kiện ngoài tự nhiên, sẽ được đem trồng trong nhà hậu cấy mô và được chuyển qua khu canh tác trồng với diện tích lớn. Cây sâm cau được trồng sau khoảng một năm là có thể thu hoạch lấy củ.

Bảo tồn và phát triển được cây dược liệu quý

Nhân giống sâm cau bằng nuôi cấy in vitro đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu từ năm 1992. Các kỹ thuật nhân giống in vitro như tái sinh chồi trực tiếp từ mẫu lá, mẫu thân; tái sinh phôi soma từ mẫu lá, callus hay hình thành căn hành ở sâm cau từ mẫu lá và thân rễ đã được nghiên cứu và công bố năm 1999.

Thành công trong ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật vào nhân giống cây sâm cau giúp sản xuất một lượng lớn cây giống có chất lượng tốt, sạch bệnh, độ đồng đều cao, trong thời gian ngắn và đủ cung cấp cho các vùng trồng chuyên canh cây dược liệu. Kết quả này còn có ý nghĩa rất lớn trong việc góp phần bảo tồn và phát triển cây dược liệu quý hiếm đang có nguy cơ bị khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt trong tự nhiên.

Củ sâm cau thu hoạch sau 2 năm tuổi. Ảnh: Hồng Thủy

Thời gian qua, Trung tâm đã chuyển giao quy trình nhân giống cây sâm cau bằng phương pháp nuôi cấy mô, cây giống mô cũng như quy trình trồng và chăm sóc giai đoạn hậu cấy mô để thu được thành phẩm củ sâm cau dược liệu cho một số cá nhân cũng như tổ chức làm về nuôi cấy mô tại các địa phương thuộc các tỉnh miền Tây, vùng Tây nguyên, Đông Nam Bộ và một số tỉnh miền Trung. Nhờ khả năng thích nghi cao cũng như sức sinh trưởng mạnh của sâm cau nên cây phát triển tốt ở hầu hết các điều kiện khí hậu, cho năng suất củ cao và chất lượng tốt. 

Nhu cầu sử dụng sâm cau ngày càng cao

Củ sâm cau 2 năm tuổi đạt kích thước dài khoảng 5-10 cm, đường kính từ 1-2 cm. Sau khoảng 2 năm tuổi, củ sâm cau có thể thu hoạch và cho giá trị dược liệu như mong muốn. Sâm cau được sử dụng làm thuốc từ rất sớm ở Ấn Độ và Trung Quốc. Củ sâm cau được trồng từ 2 năm trở lên đã tích lũy đủ các hợp chất trong thân và rễ như nhóm chất cycloartan triterpen saponin có tác dụng làm tăng khả năng sản xuất nội tiết tố nam testosterone, chống co thắt. Ngoài ra, sâm cau còn chứa chất curculosid giúp bảo vệ tế bào thần kinh, làm dịu căng thẳng và nhóm chất curculigosaponin C và F kích thích sản sinh tế bào lympho lách, làm tăng khả năng miễn dịch. Giá bán củ sâm cau tươi trên thị trường hiện nay khoảng 400.000 – 800.000 đồng/kg. Nhu cầu sử dụng loại dược liệu này đang ngày càng cao, được người tiêu dùng ưa chuộng vì giá trị dược liệu cũng như mức độ an toàn khi sử dụng.

ThS Phan Thị Hồng Thủy

Nông nghiệp là thước đo sự bền vững của quốc gia

SGGP Thứ Hai, 11/10/2021 06:57

Sau khủng hoảng tài chính năm 2008 và suy giảm kinh tế trong các năm 2011-2012, một lần nữa, nông nghiệp Việt Nam lại trở thành một “trụ đỡ” quan trọng của nền kinh tế trong đại dịch Covid-19. PV Báo SGGP có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan để hiểu sâu hơn về vị trí, vai trò của ngành nông nghiệp cũng như những góc nhìn, khái niệm mới mẻ cho vấn đề nông nghiệp – nông dân – nông thôn ở nước ta.

Nông dân ở ĐBSCL ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất để giảm công lao động, giảm giá thành, tăng năng suất. Ảnh: HUỲNH LỢI

Cần thay đổi cách nhìn về nông nghiệp

PHÓNG VIÊN: Thưa Bộ trưởng, một lần nữa nông nghiệp Việt Nam lại được nhắc tới vai trò là “trụ đỡ”, “bệ đỡ” quan trọng của kinh tế – xã hội trong đại dịch. Không chỉ đảm bảo đủ nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu cho gần 100 triệu người, mà nông nghiệp còn trở thành khu vực duy nhất có tăng trưởng dương trong 3 trụ cột công nghiệp – nông nghiệp – xây dựng và dịch vụ. Bộ trưởng nghĩ sao về điều này? 

Bộ trưởng LÊ MINH HOAN: Bối cảnh vô cùng khó khăn do đại dịch Covid-19 khiến kinh tế đất nước rơi vào giai đoạn khủng hoảng nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, trước nhiều thách thức, ngành nông nghiệp tiếp tục là “trụ đỡ” của nền kinh tế. Lũy kế 9 tháng năm 2021, tốc độ tăng trưởng đạt 2,74%. 

Riêng trong quý 3, mặc dù dịch bệnh diễn ra trên diện rộng tại 19 tỉnh, thành phố phía Nam, nhưng giá trị gia tăng của ngành vẫn tăng 1,04% so với quý 3-2020. Nguồn cung lương thực, thực phẩm vẫn đảm bảo và góp phần vào an sinh xã hội ở các đô thị lớn trong điều kiện giãn cách xã hội. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt trên 35,5 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ và dự báo có thể vượt mục tiêu cả năm. 

Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan

Vừa rồi họp Hội nghị Trung ương, rất nhiều đồng chí đến bắt tay tôi, chúc mừng ngành nông nghiệp là trụ đỡ của kinh tế – xã hội trong đại dịch Covid-19. Tôi cũng có viết một bài báo đầy hứng khởi về nội dung này.

Tuy nhiên, sau đó, tôi cũng ngồi nghiền ngẫm, suy nghĩ lại xem khái niệm “trụ đỡ” đã thực sự toát lên hết vai trò, vị trí của ngành nông nghiệp chưa. Nếu cho rằng kinh tế khủng hoảng thì nông nghiệp sẽ làm trụ đỡ thế thì khi kinh tế bình thường, vai trò, vị trí nông nghiệp ở đâu? Trước đây, chúng ta vẫn có câu: “sĩ – nông – công – thương” để xếp thứ tự 1 – 2 – 3 – 4. Tuy nhiên, từ xưa ông bà ta đã có câu “Nhất sĩ, nhì nông/Hết gạo chạy rông/Nhất nông nhì sĩ” để thấy vai trò rất quan trọng của nông nghiệp. Nếu chỉ xem xét nông nghiệp với vai trò trụ đỡ (thứ yếu) thì tôi cảm giác chưa đánh giá hết sức mạnh của nông nghiệp. 

Khi tôi còn làm Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, mỗi lần hội nghị, chúng tôi thường mời lên phát biểu đầu tiên là đại diện Bộ KH-ĐT và Bộ Tài chính. Nhìn vào báo cáo, các vị thường kêu, trời ơi sao còn nông nghiệp nhiều quá. Tự nhiên nghe mà xuống… tinh thần! Tại sao chúng ta không nhìn nông nghiệp như một sức kéo để tạo một điểm tựa cho sự phát triển bền vững khi thế giới cũng đang tư duy vậy?

Trong cuốn “Phẩm cách quốc gia” của Nhật Bản đang bán tới mấy triệu bản, họ định nghĩa rằng, phẩm cách quốc gia là đào tạo nhân tài, có nhiều sáng kiến cho thế giới và “ruộng vườn đẹp đẽ”. Tôi thấy lạ khi họ đưa cái khái niệm “ruộng vườn đẹp đẽ” lên thành phẩm cách quốc gia. Điều này khiến chúng ta phải có cách nhìn nhận lại về nông nghiệp. 
Trong bài phát biểu tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Bộ trưởng báo cáo rằng, khi các đô thị lớn thực hiện giãn cách xã hội, nhiều lực lượng lao động cùng lúc trở về quê, nhất thời tạo ra áp lực dịch chuyển, nhưng cũng cho thấy vai trò hậu phương quan trọng của nông thôn. Tại sao?

Khi qua Hàn Quốc, tôi có tham khảo chương trình “Làng mới” đã được coi là di sản UNESCO của họ. Tại một huyện nông nghiệp nằm gần biên giới với Triều Tiên, tôi thấy họ treo câu khẩu hiệu bằng tiếng Hàn: “Nông nghiệp là sinh mạng, nông thôn là tương lai”. Tôi băn khoăn là một nước đứng thứ 12 thế giới về công nghiệp, tiềm lực kinh tế mà lại định vị khẩu hiệu như vậy. Điều này tạo cho tôi rất nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Mấy ngày nay, từng dòng người rời thành phố về nông thôn và trên báo có đăng một câu theo tôi là có nhiều cảm xúc: Nông thôn chính là nơi đẩy người dân đi và hiện tại cũng là nơi mà họ đang trở về.

Nông dân ĐBSCL gieo sạ lúa bằng máy để giảm công lao động. Ảnh: HUỲNH LỢI

Trong bối cảnh hiện nay, vai trò của nông nghiệp – nông thôn càng khiến chúng ta phải tư duy lại. Trước đây, tôi thường nhìn nông nghiệp chỉ là một ngành kỹ thuật (chăn nuôi, trồng trọt), nhưng sau tôi lại nhìn với góc độ kinh tế. Sau này, tôi cũng không nhìn với góc độ kinh tế nữa mà ở góc độ xã hội.

Nông nghiệp – nông thôn không phải chỉ có những thứ đo lường được (như tăng trưởng GDP) mà có những thứ chúng ta không đo đếm nhưng chính nó đã kích hoạt GDP lên. Theo tôi, nếu công nghiệp – dịch vụ là thước đo sự thịnh vượng của một quốc gia thì nông nghiệp là thước đo sự bền vững của quốc gia đó. Nếu đô thị là thước đo sự văn minh thì nông thôn là thước đo những giá trị truyền thống của dân tộc. 

Đưa nông dân gần lại công nhân, giới khoa học

Bộ trưởng nói rằng, trong bối cảnh mới, không nên giữ những cái nhìn mang tính “định kiến” về người nông dân. Vậy cần nhìn nhận như thế nào?

Lâu nay, cách hiểu của chúng ta về nông nghiệp – nông dân – nông thôn cũng chưa chính xác và phù hợp với tình hình, bối cảnh mới. Trên báo chí, tôi thấy nhiều khi chúng ta “bi kịch hóa nông nghiệp, bi lụy hóa nông thôn, bi thương hóa nông dân”. Nhiều khi viết về nông thôn là phải nghèo, với những cảnh từng đoàn người lũ lượt rời bỏ làng quê lên thành phố để kiếm sống.

Theo cách nghĩ của chúng ta thì nông dân là phải một nắng hai sương, làm nông nghiệp mới là nông dân. Trong các chương trình đại hội, lễ kỷ niệm thường tạo hình ảnh công nhân là phải “áo xanh”, còn nông dân là “áo nâu sòng”. Tức là mình đã định hình, cố định luôn trong tâm thức rồi. Nhưng khi tôi ra nước ngoài, vào một trang trại, gặp một người mà không biết ông là nông dân hay nhà khoa học. Tôi thấy ông cầm xẻng ra ngoài đồng, nhưng khi nói chuyện, tư duy của ông như của một nhà khoa học.

Theo tôi, cần phải định hình lại hình mẫu của người nông dân trong giai đoạn mới. Tôi đã đọc hết và đọc nhiều lần Nghị quyết số 26 về nông nghiệp – nông dân – nông thôn thì có từ chúng ta quên không đưa vào là nâng cao “dân trí” cho nông dân. Nhiều năm nay, hầu như chúng ta chỉ tập trung dạy nông dân cách trồng trọt, chăn nuôi thông qua các lớp dạy nghề ở nông thôn, chúng ta cũng đã làm được rất nhiều việc từ Nghị quyết số 26, nhưng còn thiếu việc nâng cao dân trí cho nông dân, đưa nông dân gần lại công nhân, giới khoa học. 

Theo Bộ trưởng, có nên giữ chân người nông dân ở lại nông thôn không?

Nhiều năm qua, hàng triệu người dân (trong đó có nông dân) ở đồng bằng sông Cửu Long bỏ lên TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương hoặc người dân ở Nghệ An, Thanh Hóa kéo ra Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên… để làm trong các khu công nghiệp – dịch vụ. Và, những ngày này, họ lại đang rồng rắn kéo về quê. Điều này khiến tôi suy nghĩ về nguyên nhân của việc nhiều người nông dân phải bỏ ruộng, rời làng quê để lên các đô thị. 

Theo tôi, có 2 lực tạo dòng người dịch chuyển từ nông thôn về đô thị là lực hút và lực đẩy. Lực hút là các đô thị có nhiều việc làm, tạo ra sinh kế, thu nhập cao hơn. Nhưng còn kèm theo lực đẩy là nếu ở lại nông thôn thì họ không biết làm gì, nên phải kéo lên đô thị. Nhìn về tương lai của nông nghiệp – nông dân – nông thôn, chúng ta phải tính toán những yếu tố nào là lực hút, lực đẩy để có quyết sách phù hợp.

Theo tôi, chỉ giữ chân được một phần, không thể giữ được hết nông dân ở lại làm nông nghiệp. Bởi vì nông thôn còn có nhiệm vụ là nguồn cung lao động cho khu vực đô thị và công nghiệp. Nếu muốn giữ chân lao động ở nông thôn thì phải tạo ra việc làm – dịch vụ đa ngành nghề ở nông thôn. Vừa rồi làm việc với các chuyên gia Trung Quốc thì tôi được biết từ mô hình “xí nghiệp hương trấn”, họ đã phát triển ra mô hình “phi nông nghiệp ở nông thôn”. Tức là ở nông thôn không có nghĩa là phải làm nghề nông mà có thể làm nhiều ngành nghề khác. Điều này buộc chúng ta phải thay đổi cách nhìn mới mẻ hơn về người nông dân, thay đổi các khái niệm trong bối cảnh mới.

VĂN PHÚC thực hiện

LẮNG NGHE NGƯỜI DÂN HIẾN KẾ: Cơ hội phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Thách thức nhiều thì cơ hội cũng rất lớn, nền nông nghiệp công nghệ cao cần được hỗ trợ tối đa để TP HCM phát triển mạnh mẽ hơn sau dịch bệnh

Trong thời đại kinh tế tri thức và kinh tế số trở thành xu thế tất yếu để phát triển kinh tế – xã hội, việc phát triển nông nghiệp công nghệ cao là một giải pháp rất hay, cần được TP HCM đặc biệt quan tâm.

Tiềm năng rất lớn

Một nền nông nghiệp sản lượng cao, chất lượng đạt chuẩn với chi phí tối thiểu, tạo nên thặng dư giá trị cho người nông dân là mấu chốt giải quyết rất nhiều vấn đề trong phát triển kinh tế – xã hội của TP HCM.

Về mặt quỹ đất, hiện TP HCM có diện tích đất nông nghiệp gần 114.000 ha, chiếm hơn 50% tổng diện tích toàn thành phố, trong đó đất sản xuất nông nghiệp khoảng 66.000 ha, đất lâm nghiệp 35.684 ha, đất nuôi trồng thủy sản 10.798 ha, với hơn 25.300 hộ đang sản xuất nông nghiệp.

Về mặt khoa học kỹ thuật, ngoài số lượng kỹ sư, chuyên gia, chuyên viên nông nghiệp có hàm lượng tri thức cao, TP HCM có Trung tâm Công nghệ sinh học (diện tích 23 ha); Trại Thực nghiệm và trình diễn chăn nuôi bò sữa công nghệ cao Israel (DDEF) với 200 con; 1 khu nông nghiệp công nghệ cao với diện tích 88 ha; đang thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao ngành thủy sản tại Cần Giờ (89,7ha) và dự án mở rộng khu nông nghiệp công nghệ cao hiện hữu thêm 23,3 ha tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi…

Trồng nấm thử nghiệm trong nhà kính tại Khu Thực nghiệm ứng dụng CNTT 

trong nông nghiệp Ảnh: THANH HIỆP

Về mặt thị trường tiêu thụ, TP HCM có 104 hợp tác xã, một liên hiệp HTX, có những chợ đầu mối lớn cùng hàng ngàn siêu thị bán buôn, bán lẻ. Kèm theo là nhu cầu về thực phẩm, sản phẩm nông nghiệp ở TP HCM rất lớn vì có dân số lớn nhất cả nước, đời sống kinh tế – xã hội sầm uất.

Về mặt xuất khẩu, Việt Nam là một nước xuất phát điểm thuần nông, sản phẩm nông nghiệp đã xuất hiện ở nhiều thị trường quốc tế, dù khó tính nhất như Mỹ, Hàn, Nhật, châu Âu. TP HCM có nhiều đơn vị xuất khẩu nông sản hàng đầu, như: Tổng Công ty Lương thực miền Nam; Công ty CP Thực phẩm nông sản xuất khẩu Agrex Sài Gòn, Công ty TNHH Galaxy Agro, Công ty CP Tập đoàn Intimex, Công ty CP Thực phẩm Vantrgap…

Tuy nhiên, theo thống kê, nông nghiệp TP HCM chỉ chiếm khoảng 1% GRDP toàn thành phố. Nông nghiệp không thể so sánh với công nghiệp, dịch vụ hay du lịch nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của thành phố, đồng thời 1% đó về mặt giá trị tuyệt đối là không hề nhỏ.

Nếu không phải bây giờ, thì bao giờ?

Có thể thấy những điều kiện để thúc đẩy phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở TP HCM là hoàn toàn có cơ sở, cái cần là có định hướng đúng đắn, quyết sách có tính chiến lược.

TP HCM cần nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học – công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, thân thiện với môi trường; chuyển mạnh từ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang sản xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả, có giá trị gia tăng cao, phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của TP HCM. Thực hiện điều này phải gắn các doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông với nhau, có vai trò điều phối, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.

Tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả, nhất là các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong nước và ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn; có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ gắn với nông nghiệp ở nông thôn, góp phần tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng thương hiệu nông sản TP HCM; có chính sách phù hợp để phát triển và tiêu thụ đối với các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, bảo đảm các tiêu chuẩn về chất lượng theo các chuẩn của từng thị trường về hàm lượng kháng sinh, hóa chất…, phổ biến là VietGap, GlobalGap.

Đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao, lao động nông nghiệp nông thôn ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao về chăn nuôi, trồng trọt và thủy sản. Người dân làm chủ công nghệ, làm chủ dây chuyền sản xuất, sử dụng nhà màng, nhà lưới, hệ thống tưới tự động, cơ giới hóa, kỹ thuật sử dụng phân bón…

Đặc biệt coi trọng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý sản xuất. Các sàn thương mại điện tử không chỉ đơn thuần là những hoạt động hỗ trợ tiêu thụ nông sản ngắn hạn mà dần trở thành giải pháp kinh doanh bền vững cho nông dân, là cầu nối đưa nông phẩm sạch với giá cả tốt đến tận tay người tiêu dùng.

Đợt dịch Covid-19 bùng phát vừa qua được xem là thử thách toàn diện đời sống kinh tế – xã hội của thành phố, mọi thói quen, điều kiện về tiêu dùng, kinh doanh, sản xuất đều phải thay đổi để thích ứng với thời cuộc. Nhưng thách thức nhiều thì cơ hội cũng rất lớn, nền nông nghiệp công nghệ cao cần được hỗ trợ tối đa để TP HCM phát triển mạnh mẽ hơn sau dịch bệnh.

Lê Nữ Ngọc Bích

Nông nghiệp công nghệ cao mở lối cho tư duy kinh tế nông nghiệp

Để sản xuất hiệu quả trong trạng thái “bình thường mới” an toàn với dịch COVID-19, nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp”

Những điển hình mới về “sản xuất xanh”

Từ 2 giống dưa nhập từ Nhật Bản, anh Nguyễn Huy Hào (TP.Cần Thơ) và  cộng sự đã nhờ sự hỗ trợ của chuyên gia, lai tạo ra 2 giống dưa mới có tên gọi là dưa DeHa vỏ xanh ruột cam và  dưa lưới trắng HaVu. 2 loại dưa này có trọng lượng khá lớn (từ 2-5kg), mẫu mã đẹp, giòn, ngọt. Đặc biệt, thời gian canh tác 2 loại dưa này chỉ 75 ngày, mang lại lợi ích khá lớn.

“Toàn bộ khâu chăm sóc dưa lưới tại trang trại đều làm theo quy trình khép kín, sử dụng nguồn đất sạch và bón phân hữu cơ. Khi thụ phấn bằng ong, bã ong được tận dụng để tạo dinh dưỡng cho cây. Thân và lá dưa sau khi dọn trại cũng được tận dụng, kết hợp vỏ tôm để tạo ra đất trồng” – anh Nguyễn Huy Hào, cho biết.

Hợp tác xã (HTX)  Dịch vụ nông nghiệp Sông Hồng (Đông Anh, Hà Nội) cũng là đơn vị điển hình cho tư duy kinh tế nông nghiệp theo xu hướng “sản xuất xanh”, kinh tế tuần hoàn với sản phẩm ống hút hữu cơ, an toàn với người tiêu dùng và thân thiện với môi trường.  

Ông Lê Văn Tám – Giám đốc HTX, cho biết: Với diện tích 1.500m2, HTX phát triển 6 mô hình nhà phủ màng công nghệ cao của Israel, chuyên sản xuất rau, củ, quả sạch theo hướng hữu cơ, chủ động nguồn cung nguyên liệu là rau, củ, quả để tạo ra loại ống hút thân thiện với môi trường để cung cấp cho các cửa hàng kinh doanh đồ uống, quán càphê và một số siêu thị của Hàn Quốc, Đức…

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT), hiện nay, trong lĩnh vực trồng trọt mới chỉ có cây lúa có mức độ cơ giới hóa cao ở nhiều khâu. Các loại cây trồng khác như: Mía, ngô, rau quả chỉ mới cơ giới hóa ở khâu làm đất, gieo hạt và chưa áp dụng được nhiều trong khâu thu hoạch, bảo quản, nhất là khâu sản xuất chế biến.

Để hỗ trợ nông dân nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, PGS.TS Nguyễn Đình Tùng – Viện trưởng Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp (RIAM) đã cùng nhóm cộng sự đã thành công trong việc thiết kế và chế tạo các hệ thống thiết bị sấy và sơ chế, chế biến nông sản quy mô công nghiệp. Sản phẩm có ưu điểm nổi trội là tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Từ khi được áp dụng vào thực tiễn sản xuất, công trình nghiên cứu này đã được DN, người dân đánh giá rất cao. Viện nghiên cứu thiết kế chế tạo máy nông nghiệp đã đăng ký Bằng độc quyền sáng chế cho sản phẩm.

Sản phẩm dưa trồng theo công nghệ cao của anh Nguyễn Huy Hào. Ảnh: TL

Chuyển tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp”

Theo Bộ trưởng Bộ NNPTNT Lê Minh Hoan, Việt Nam đã và đang hướng đến nền nông nghiệp minh bạch, trách nhiệm, bền vững và tăng trưởng xanh phát triển mô hình tăng trưởng tích hợp đa giá trị theo hướng công nghệ cao, đa dạng, bền vững.

Nông nghiệp công nghệ cao tạo ra sản phẩm “xanh“. Ảnh: TL

Do đó, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới khoa học công nghệ được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp, các ứng dụng ưu việt của công nghệ như: Sinh học, nhà kính, tưới nhỏ giọt, cảm biến, tự động hóa, internet vạn vật… giúp sản xuất nông nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường. Đồng thời, giúp nông dân chủ động trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.

“Nông dân chuyên nghiệp” là biết sản xuất sao cho tiết kiệm nhất, để giá thành hợp lý nhất, mà vẫn bảo đảm chất lượng” – Bộ trưởng Lê Minh Hoan nói.

Hỗ trợ DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho cả người dân và DN. Các tiến bộ về khoa học công nghệ đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Mức độ tổn thất của nông sản đã giảm đáng kể, trong đó tổn thất của lúa gạo đã giảm xuống dưới 10%…

Bộ trưởng Lê Minh Hoan cũng nhấn mạnh: Để sản xuất hiệu quả trong trạng thái “bình thường mới” an toàn với dịch COVID-19, nông nghiệp Việt Nam phải chuyển từ tư duy “sản xuất nông nghiệp” sang tư duy “kinh tế nông nghiệp”; chuyển từ nền nông nghiệp “sản lượng cao” sang “nền nông nghiệp công nghệ cao, sinh thái, trách nhiệm, bền vững” và đây là chìa khóa cho ngành nông nghiệp để phát triển bền vững.

VŨ LONG

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở TPHCM

Ươm cấy cây giống tại Trung tâm Công nghệ sinh học TPHCM nhằm phục vụ nhu cầu sản xuất của nông dân thành phố. Ảnh: Báo Nông nghiệp Việt Nam

(Thanhuytphcm.vn) – Ngành nông nghiệp TPHCM được đánh giá là tiếp tục chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững, tập trung vào các ngành nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, kéo theo năng suất lao động tăng bình quân 21%/năm. Thành phố đã ban hành danh mục các sản phẩm chủ lực và tiềm năng của ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp của năm 2019 ước đạt 550 triệu đồng/ha/năm, gấp 1,5 lần năm 2015 (367 triệu đồng/ha/năm). Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân ngành giai đoạn 2016 – 2020 là 5,82%/năm. Năm 2019, số lao động trong nông nghiệp ước 53.000 người, chiếm 1,15% lao động Thành phố. Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình tại các xã năm 2017 đạt 49,18 triệu đồng/người, tăng 23,8% so với năm 2015 là 39,72 triệu đồng/người; năm 2019 đạt 63,096 triệu đồng/người, tăng 58,85% so năm 2015.

Thành phố cũng đã hình thành Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học, Trại Trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao hoạt động bước đầu có hiệu quả; có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn, nhất là các sản phẩm có giá trị và chất lượng cao từ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; có khả năng về nguồn lực đầu tư của xã hội cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Năng suất lao động khu vực nông nghiệp tăng bình quân 21,1%/năm.

Trong định hướng phát triển thời gian tới, dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ XI nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã nêu rõ: “Phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, bền vững gắn với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”. Theo đó, Thành phố sẽ tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây, giống con chất lượng và năng suất cao, từng bước hình thành trung tâm giống cây, giống con của khu vực; phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực để tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiệu quả, xây dựng bộ tiêu chí nông thôn mới phù hợp với quá trình đô thị hóa của vùng nông thôn Thành phố; phát triển nông thôn mới lên đô thị nông nghiệp công nghệ cao. Và một trong 12 chương trình trọng điểm là Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2020 – 2030.

Hướng đến một nền nông nghiệp công nghệ cao với quy mô sản xuất lớn, hiện đại là một tất yếu. Trong điều kiện TPHCM, cần định hướng đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp với nông nghiệp đô thị gắn với xây dựng nông thôn mới, đó là:

Thứ nhất, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học – công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; chuyển mạnh từ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang sản xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả, có giá trị gia tăng cao, phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của TPHCM. Thực hiện điều này phải gắn các doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà nông với nhau, có vai trò điều phối, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.

Thứ hai, tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả, nhất là các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong nước và ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn; có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Trong đó, cần phát triển loại hình hợp tác (tổ hợp, hợp tác xã…) trong sản xuất hoa lan cây kiểng, cá kiểng, rau sạch, chăn nuôi heo, bò…, có gắn chặt với nhau từ khâu sản xuất giống, việc nuôi/trồng, thu hoạch, chế biến và tiêu thụ.

Thứ ba, phát triển nông nghiệp và dịch vụ gắn với nông nghiệp ở nông thôn, góp phần tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Tức là, chú trọng tạo việc làm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn để giải quyết bài toán về lao động và thu nhập ngay tại đây, nhằm góp phần phát triển khu vực này và không tạo áp lực cho các đô thị. Trong đó, cần chú trọng hoạt động du lịch sinh thái, du lịch gắn với hoạt động tham quan, trải nghiệm liên quan đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là hướng đến giới trẻ.

Thứ tư, đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng thương hiệu nông sản Việt Nam; có chính sách phù hợp để phát triển và tiêu thụ đối với các nhóm sản phẩm xuất khẩu chủ lực, có lợi thế quốc gia, lợi thế địa phương và các đặc sản vùng, miền. Chẳng hạn, phải phát huy lợi thế so sánh của từng loại nông sản, chú ý các “đặc sản” của từng địa phương, bảo đảm các tiêu chuẩn về chất lượng (theo các chuẩn của từng thị trường về hàm lượng kháng sinh, hóa chất…, phổ biến là VietGap, GlobalGap), chú trọng hình thức…

Tuy nông nghiệp TPHCM chỉ chiếm khoảng 1% GRDP toàn Thành phố nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của Thành phố, đồng thời 1% đó về mặt giá trị tuyệt đối là không nhỏ. Do đó, trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn (đặc biệt là do nguồn đất và nguồn nước bị ô nhiễm do các nhà máy, khu công nghiệp xả thải)… thì phát triển nông nghiệp đô thị, ứng dụng khoa học công nghệ và xu hướng tất yếu và cần phải thực hiện ngay. Xác định loại cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với điều kiện thực tế và nhu cầu của Thành phố, đồng thời có biện pháp phát triển phù hợp là hết sức cần thiết!

Vân Tâm

Nông nghiệp công nghệ cao – Xu thế tất yếu của kỷ nguyên số

Trong nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao gắn với phát triển bền vững đang là ưu tiên hàng đầu của Việt Nam. Cùng với nỗ lực của quốc gia, Học viện Nông nghiệp Việt Nam định hướng đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao, đồng thời nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ tiến tiến trong lĩnh vực nông nghiệp.

Ngành Nông nghiệp công nghệ cao trang bị cho sinh viên kiến thức gì?

Nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp được ứng dụng kết hợp những công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững.

 

Sinh viên thực hành tại mô hình thủy canh của Học viện

Theo học ngành Nông nghiệp công nghệ cao, sinh viên được trang bị kiến thức về công nghệ sinh học, công nghệ trồng cây không đất, công nghệ điều khiển cây trồng, công nghệ tự động hóa và ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý cây trồng, nông nghiệp chính xác, mô hình hóa cây trồng… cũng như được nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học ứng dụng trong nông nghiệp. Đây là nền tảng kiến thức cơ bản giúp sinh viên có thể xây dựng được các quy trình sản xuất cây trồng theo hướng ứng dụng công nghệ cao nhằm nâng cao năng suất, chất lượng nông sản đáp ứng nhu cầu của xã hội và hội nhập quốc tế. 

Bên cạnh đó, sinh viên còn được trang bị kiến thức về chuỗi giá trị nông nghiệp, thị trường công nghệ nông nghiệp trong nước và quốc tế để quản lý các dự án nông nghiệp công nghệ cao, hệ thống sản xuất nông sản và chất lượng nông sản.

Ngoài ra, sinh viên còn được trau dồi kỹ năng mềm (kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý bản thân, kỹ năng làm việc nhóm…), kỹ năng chuyên môn (kỹ năng thực hiện thành thạo và hướng dẫn thực hiện các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất cây trồng đạt hiệu quả cao và bảo vệ môi trường; kỹ năng thiết kế và triển khai các nghiên cứu về nông nghiệp công nghệ cao…).

Tốt nghiệp ngành Nông nghiệp công nghệ cao có thể làm những công việc gì?

Trên thực tế, muốn phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao và hoạt động ấy có hiệu quả hay không thì yếu tố quan trọng nhất chính là con người. Là một nước nông nghiệp với nhiều lợi thế từ các sản phẩm nhiệt đới nhưng để biến tiềm năng đó thành hiện thực thì việc đầu tư vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực là cần thiết. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ có trình độ về Nông nghiệp công nghệ cao đang thiếu một cách nghiêm trọng. Do đó, sinh viên theo học ngành Nông nghiệp công nghệ cao có rất nhiều cơ hội việc làm sau khi tốt nghiệp.

Sinh viên tốt nghiệp ngành Nông nghiệp công nghệ cao có thể đảm nhận các vị trí như:

– Cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước: Bộ/Sở/Phòng Khoa học và Công nghệ, Bộ/Sở/Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn…

– Nhân viên tư vấn và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến.

– Chuyên viên phụ trách các dự án trong nước và quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

– Kỹ sư công nghệ nông nghiệp kỹ thuật số tại các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh và sử dụng các thiết bị nông nghiệp công nghệ cao.

– Giảng viên, cán bộ nghiên cứa trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về nông nghiệp và công nghệ.

– Làm chủ các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh nông nghiệp.

Tại sao lại chọn học ngành Nông nghiệp công nghệ cao tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam?

Học viện Nông nghiệp Việt Nam (trước đây là Trường Đại học Nông nghiệp I) được thành lập ngày 12 tháng 10 năm 1956, là trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ đa ngành, hàng đầu của Việt Nam. Học viện có cơ sở vật chất khang trang, hiện đại cùng đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm trong tất cả các lĩnh vực như: trồng trọt, công nghệ sinh học, công nghệ thực phẩm… Hơn 80% giảng viên của Học viện được đào tạo từ các nước có nền khoa học tiên tiến trong khu vực và trên giới.

Giới thiệu ngành Nông nghiệp công nghệ cao

Chương trình đào tạo ngành Nông nghiệp công nghệ cao được xây dựng dựa trên cách tiếp cận mới trong đào tạo đại học ở các nước Châu Âu và các nước phát triển trên thế giới, tăng thời lượng thực hành và trải nghiệm thực tế tại các doanh nghiệp, trang trại sản xuất nông nghiệp tiên tiến. Trong qua trình đào tạo, Học viện thường xuyên mời các cán bộ có kinh nghiệm quản lý, kỹ thuật của các viện nghiên cứu, doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình, trao đổi kinh nghiệm và giảng dạy.

Một tiết học thực hành trồng cây không đất của sinh viên

Mô hình nghiên cứu chọn giống cà chua tại Học viện

Ngoài những tiết học thú vị trên lớp, sinh viên ngành Nông nghiệp công nghệ cao có cơ hội tham gia đề tài khoa học, hội nghị, hội thảo, seminar khoa học, giao lưu sinh viên quốc tế, chương trình khởi nghiệp sáng tạo hoặc tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tình nguyện vì cộng đồng…

 

Một tiết học thực hành của sinh viên

Nếu bạn yêu thích ngành Nông nghiệp công nghệ cao và mong muốn học tập tại ngôi trường có bề dày truyền thống lịch sử này, hãy nhanh tay đăng ký vào Học viện Nông nghiệp Việt Nam:

Mã trường Mã nhóm ngành Tổ hợp tuyển sinh Phương thức tuyển sinh
HVN HVN18 A00: Toán, Vật lí, Hóa học

B00: Toán, Hóa học, Sinh học

B08: Toán, Sinh học, Tiếng Anh

D01: Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh

– Tuyển thẳng: Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo + theo quy định của Học viện;

– Xét học bạ lớp 11 hoặc lớp 12: Ba môn trong tổ hợp xét tuyển >=18 điểm;

– Xét điểm thi THPT quốc gia năm 2021: Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Thông tin liên hệ

Điện thoại: 024.6261.7578, 024.6261.7520, 0961.926.639, 0961.926.939

Website: https://www.vnua.edu.vn/

Facebook: www.facebook.com/tuyensinhvnua.edu.vn

TT QHCC&HTSV + Khoa Nông học