Thông Báo Tuyển dụng viên chức năm 2022

Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao thông báo tuyển dụng viên chức năm 2022 tại Văn phòng (Lầu 11, 255 Trần Hưng Đạo, Phường Cô Giang, Quận 1, Tp.HCM) như sau:

  1. Vị trí và số lượng tuyển dụng

Giáo viên Giáo dục nghề nghiệp Lý thuyết hạng III (V.09.02.07): 04 người

  1. 2. Điều kiện dự tuyển

Căn cứ Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức;

Căn cứ Thông tư số 06/2020/TT-BNV ngày 02 tháng 12 năm 2020 của Bộ Nội vụ ban hành Quy chế tổ chức thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức, thi nâng ngạch công chức, thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức; Nội quy thi tuyển, xét tuyển công chức, viên chức, thi nâng ngạch công chức, thi hoặc xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức;

Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển viên chức:

  1. a) Có phiếu đăng ký dự tuyển.
  2. b) Có lý lịch rõ ràng.
  3. c) Có văn bằng, chứng chỉ đào tạo, chứng chỉ hành nghề hoặc có năng khiếu kỹ năng phù hợp với vị trí việc làm, không phân biệt loại hình đào tạo, văn bằng, chứng chỉ, trường công lập, trường ngoài công lập.
  4. d) Có chứng chỉ sư phạm Dạy nghề, tốt nghiệp Đại học trở lên một trong các chuyên ngành sau: Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt, Nuôi trồng thủy sản, Công nghệ sinh học hoặc tương đương.

đ) Có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 3 (B1) theo quy định Thông tư số 01/2014/TT-BGDĐT ngày 24/01/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam.

  1. e) Có trình độ tin học đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin.
  2. f) Đủ sức khỏe để thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ theo vị trí việc làm đăng ký dự tuyển.
  3. Hồ sơ dự tuyển

Người đăng ký dự tuyển nộp Phiếu đăng ký dự tuyển theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị định 115/2020/NĐ-CP.

  1. Hình thức tuyển dụng: Xét tuyển
  2. Ưu tiên trong tuyển dụng: Thực hiện theo Nghị định số 115/2020/NĐ-CP ngày 25 tháng 9 năm 2020; Thông tư số 06/2020/TT-BNV ngày 02 tháng 12 năm 2020.
  3. Thời gian, địa điểm nộp phiếu đăng ký dự tuyển

Thời gian nộp phiếu đăng ký dự tuyển: Từ ngày 21/04/2022 đến hết
17 giờ ngày 21/05/2022.

Địa điểm nộp phiếu đăng ký dự tuyển: Phòng Tổ chức – Hành chính, Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao, Lầu 11, 255 Trần Hưng Đạo, Phường Cô Giang, Q.1,Tp.HCM.

Người đăng ký dự tuyển có thể nộp phiếu đăng ký dự tuyển theo đường bưu chính hoặc trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử của đơn vị: ttdn.ahtp@tphcm.gov.vn; website:http://ahtc.edu.vn.

Điện thoại: (028) 38.624.703 hoặc người tiếp nhận hồ sơ C.Giàu (Phòng Tổ chức – Hành chính). Điện thoại: 070.7510.534

Trên đây là Thông báo tuyển dụng viên chức năm 2022 của Trung tâm
Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố./.

Kỷ niệm Ngày Quốc tế Phụ Nữ Việt Nam 8/3

     Ban Quản lý Khu NNCNC TP.HCM tổ chức “Hội thi trình diễn áo dài và năng khiếu” và chào mừng ngày Quốc tế Phụ nữ Việt Nam 8/3 cho tất cả các nữ Công chức, Viên chức và người lao động toàn Ban tại Hội trường Củ Chi.

     Trong khuôn khổ chào mừng kỷ niệm 112 năm Ngày Quốc tế phụ nữ 8/3, nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, phát huy tinh thần đoàn kết, giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các Công chức, Viên chức và người lao động trong toàn Ban, với sự đồng ý của đồng chí Lê Văn Cửa – Phó Trưởng Ban, Chủ tịch Công Đoàn BQL Khu NNCNC TP.HCM cùng với lãnh đạo của 4 Trung tâm trực thuộc và BCH Đoàn Thanh niên đã tổ chức chương trình chào mừng ngày 8/3 cũng như Hội thi trình diễn áo dài và năng khiếu cho toàn Ban vào ngày 07/3/2022 tại Hội trường Củ Chi.

Toàn thể Công chức, Viên chức và người lao động chuẩn bị cho chương trình

     Sau phát biểu chúc mừng ngày 8/3 đến toàn thể các chị em phụ nữ của các đồng chí Lãnh đạo Ban cũng như lãnh đạo của 4 Trung tâm. Đồng chí Lê Văn Cửa đã phát động cho Hội thi trình diễn áo dài và năng khiếu của chương trình được bắt đầu.

     Hội thi trình diễn áo dài và năng khiếu bao gồm 5 đội tham gia:

        + Đội 1: Đội Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp CNC 1

        + Đội 2: Đội Khối Văn phòng Ban Quản lý Khu NNCNC

        + Đội 3: Đội Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp CNC

        + Đội 4: Trung tâm Khai thác Hạ tầng

        + Đội 5: Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao

        + Đội 6: Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp CNC 2

     Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao tham gia tiết mục trình diễn áo dài trong Hội thi nhân dịp ngày Quốc tế Phụ nữ Việt Nam 8/3 tại Hội trường Củ Chi.

 

 

 

 

 

 

 

Phần thi trình diễn áo dài của đội thi Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao

     Sau Phần thi trình diễn áo dài nhân dịp ngày Quốc tế Phụ nữ Việt Nam 8/3 của 6 đội là đến phần thi năng khiếu của các đội. Trung tâm Dạy nghề tham gia với tiết mục múa qua trình diễn của các chị em phụ nữ trong Trung tâm.

 

 

 

 

 

 

 

Phần thi năng khiếu của Đội thi Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao

Đồng chí Lê Văn Cửa – Chủ tịch Công đoàn BQL Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM trao giải cho các đội thi đã tham dự

     Với sự nổ lực chuẩn bị cũng như nổ lực trong tập luyện Đội thi của Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao cũng đã hoàn thành tốt 2 phần thi. Mặc dù chỉ đoạt giải khuyến khích trong cuộc thi nhưng qua đó chương trình cũng đã khích lệ tinh thần, nâng cao đời sống văn hóa, sự giao lưu, đoàn kết giữa mọi người trong Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao nói riêng cũng như toàn thể các Công chức – Viên chức và Người lao động của toàn Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.

TP. Hồ Chí Minh phát triển nông nghiệp công nghệ cao bền vững

     Hồ Chí Minh có vị trí trung tâm, là đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói riêng và cả nước nói chung. Với tiềm năng đó, trong thời gian tới Thành phố sẽ ưu tiên phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, trong đó tập trung phát triển giống cây trồng, vật nuôi để trở thành ngành kinh tế đặc thù.

     Ông Nguyễn Phước Trung – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn TP Hồ Chí Minh (NN&PTNT) – cho biết, hiện nay một số sản phẩm nông nghiệp chủ lực, đang là thế mạnh của thành phố về chất lượng và giá bán như rau, hoa, sữa tươi, tôm, cá cảnh, heo, tổ chim yến. Do quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh, trong khi diện tích canh tác không thể mở rộng và đang có xu hướng giảm dần, nhu cầu nông nghiệp thành phố yêu cầu không chỉ đủ sản lượng cung cấp cho trên 12 triệu người mà còn phải có chất lượng, phong phú và đa dạng.

     Do đó việc khuyến khích kêu gọi đầu tư nông nghiệp trong và ngoài nước trên địa bàn thành phố, tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất và liên kết phối hợp với các tỉnh khác để tạo nguồn nguyên liệu ổn định và chất lượng cho người dân thành phố luôn là giải pháp hàng đầu mà thành phố quan tâm.

Hồ Chí Minh tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp Công nghệ cao

     Theo sở NN&PTNT, hiện nay thành phố có diện tích đất nông nghiệp gần 114 ngàn ha, chiếm hơn 50% tổng diện tích toàn thành phố, trong đó đất sản xuất nông nghiệp khoảng 66.000 ha, đất lâm nghiệp 35.684 ha, đất nuôi trồng thuỷ sản 10.798 ha. Với trên 25.300 hộ đang đang sản xuất nông nghiệp, trình độ lao động ngày càng được tăng cao, tỷ lệ lao động nông nghiệp được đào tạo hơn 70%.

     Tốc độ tăng trưởng nông lâm ngư nghiệp khá cao, năm 2018 GRDP đạt 9.610 tỷ đồng, tăng 6,2% so với cùng kỳ. Cơ cấu nông nghiệp với trồng trọt chiếm tỉ trọng 25,1%, chăn nuôi 36,6%, dịch vụ 7,9%, thuỷ sản 29,7%.

     Theo ông Trung, Thành phố có những sản phẩm nông nghiệp đã xuất khẩu, tuy nhiên quy mô và giá trị xuất khẩu chưa cao như: hoa lan, giống cây trồng, rau, cá cảnh, cá sấu. “Thành phố cũng đã đầu tư nhiều cơ sở hạ tầng cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao như Trung Tâm công nghệ sinh học (diện tích 23ha), Trại Thực nghiệm và Trình diễn chăn nuôi bò sữa công nghệ cao Israel (DDEF) với 200 con, 1 Khu Nông nghiệp công nghệ cao với diện tích 88ha. Đang thực hiện dự án Đầu tư xây dựng Khu Nông nghiệp công nghệ cao ngành thủy sản tại Cần Giờ (89,7ha) và dự án mở rộng Khu Nông nghiệp công nghệ cao hiện hữu thêm 23,3 ha tại xã Phước Vĩnh An, huyện Củ Chi…” – ông Trung chia sẻ.

     Tuy nhiên ông Trung nhận định, tỷ lệ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của thành phố chưa cao và đang có xu hướng tăng dần. Nếu như năm 2010, tỷ lệ này khoảng 10% đến năm 2016 là 35,8% , năm 2018 là 38,2%.

     Hiện thành phố đã có 104 hợp tác xã và 1 liên hiệp HTX trong lĩnh vực nông nghiệp. Đã xuất hiện nhiều mô hình HTX điển hình với những cách làm mới, thành công theo phương thức sản xuất gắn với chuỗi giá trị nông sản và đã có sản phẩm xuất khẩu.

Đến nay TP Hồ Chí Minh đã có 1.240 tổ chức, cá nhân sản xuất rau quả trên địa bàn TP được chứng nhận VietGap

     Về mục tiêu định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, ông Trung – cho rằng, cần nâng cao tỷ lệ ứng dụng nhà lưới, nhà kính, nhà màng trong sản xuất rau, hoa cây kiểng giúp đảm bảo ổn định năng suất, chất lượng cây trồng; Hoàn thiện hệ thống thông tin về vùng trồng, diện tích, chủng loại nông sản, dự kiến sản lượng thu hoạch/vụ/năm và dự báo cung cầu một số mặt hàng nông sản chủ lực.

     Bên cạnh đó, cần tiếp tục xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc sản phẩm nông nghiệp: Xây dựng, thiết kế phần mềm quản lý dữ liệu sản nông nghiệp phục vụ công tác quản lý và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước thông qua công tác đào tạo nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ chuyên ngành giống, đáp ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực, đặc biệt nguồn nhân lực trong quản lý, sản xuất giống.

     Ngoài ra, tổ chức chứng nhận chất lượng giá trị giống vật nuôi theo các phương pháp tiên tiến; kiểm tra, kiểm nghiệm chất lượng giống bằng các phương pháp kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.

     Theo UBND TP. HCM, đến nay đã có 1.240 tổ chức, cá nhân sản xuất rau quả trên địa bàn TP được chứng nhận VietGAP với tổng diện tích canh tác 1.438ha (chiếm 46,8% diện tích trồng rau trên địa bàn thành phố), sản lượng dự kiến trên 147.700 tấn/năm. Việc triển khai dán tem truy xuất nguồn gốc rau củ quả VietGAP tại 7 hợp tác xã và 1 tổ hợp tác sản xuất nông nghiệp với sản lượng rau được dán tem khoảng 15,3 tấn/ngày.

     HCM hiện có 3.517ha trồng rau, trong đó diện tích rau ứng dụng công nghệ cao là 43,9ha; tập trung huyện Củ Chi 2.004ha, huyện Bình Chánh 639ha, huyện Hóc Môn 430ha, các địa phương còn lại là 444 ha.

     Theo Ban Quản lý khu nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh, nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức lớn là biến đổi khí hậu, tham gia các hiệp định thương mại tự do và nền công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh toàn cầu, thâm nhập vào đa lĩnh vực và cuộc sống. Ngoài nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu trong nước thì sản xuất nông nghiệp của Việt Nam hướng đến xuất khẩu để nâng cao giá trị gia tăng hơn nữa cho sản phẩm nông nghiệp.

Hoàng Tỷ

Trích nguồn: https://congthuong.vn

Nông nghiệp công nghệ cao thích ứng với biến đổi khí hậu

(ĐCSVN) – Nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ cao (CNC) vào sản xuất nông nghiệp, cũng như tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới ngành nông nghiệp, Đảng ta đã có những định hướng đúng đắn nhằm phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC), thích ứng với BĐKH trong văn kiện Đại hội XIII.

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

NNCNC là nền nông nghiệp được áp dụng những công nghệ mới vào sản xuất, bao gồm: công nghiệp hóa nông nghiệp, tự động hóa, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học và giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, đạt hiệu quả kinh tế cao trên một đơn vị diện tích và phát triển bền vững trên cơ sở canh tác hữu cơ.

NNCNC có các đặc trưng: (1) Vốn đầu tư rất lớn so với nông nghiệp truyền thống; (2) Ứng dụng những công nghệ mới, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành; (3) Xây dựng các xí nghiệp nông nghiệp kiểu mới; (4) Quy trình sản xuất được kiểm soát chặt chẽ; (5) Tối ưu hóa nguồn nhân lực; (6) Phát triển các nguồn năng lượng mới và các loại phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, an toàn cho sử dụng.

Ứng dụng CNC trong nông nghiệp đem lại nhiều lợi ích, làm tăng sản lượng nông nghiệp, tạo số lượng hàng hóa lớn với chất lượng cao; Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giá trị gia tăng cho một số sản phẩm địa phương, hình thành các sản phẩm hàng hóa đặc sản chủ lực của quốc gia, vùng và địa phương; Đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Mặt khác, Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi BĐKH toàn cầu. Năm 2020, thiên tai đã làm thiệt hại ước tính thiệt hại hơn 35.181 tỷ đồng. Từ đầu năm 2021 đến nay đã xảy ra gần chục cơn bão và áp thấp nhiệt đới, các trận động đất, mưa lũ. Ước tính thiệt hại khoảng 264,4 tỷ đồng.

Sản xuất rau hữu cơ tại Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Đông Cao, thị trấn Phổ Yên.
Ảnh: TTXVN

Dự báo trong những năm tới, BĐKH sẽ diễn ra ngày càng nhanh, phức tạp, khó lường và có những tác động mạnh hơn so với trước đây. BÐKH có thể làm năng suất lúa vụ xuân giảm 0,41 tấn/hécta vào năm 2030 và 0,72 tấn vào năm 2050. Năng suất ngô giảm 0,44 tấn/hécta vào năm 2030 và 0,78 tấn vào năm 2050. Thiệt hại của ngành thủy sản có thể lên đến gần 1,6% GDP vào năm 2030. Do đó, phát triển NNCNC, thích ứng với BĐKH là vấn đề đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Những năm qua, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến phát triển NNCNC và có nhiều giải pháp ứng phó với BĐKH. Một số công nghệ tiên tiến đã được nghiên cứu phát triển phục vụ sản xuất. CNC đã đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Cơ cấu nông nghiệp đã có sự chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường. Các giải pháp gắn phát triển nông nghiệp với BĐKH cũng đã được triển khai và đạt hiệu quả nhất định.

Tuy nhiên, nhận thức về phát triển NNCNC, về BĐKH còn chưa thực sự đầy đủ và toàn diện. Ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH còn thấp. Phát triển các khu, vùng NNCNC chưa tương xứng với dư địa hiện có; Cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi chuyển dịch chậm; Nhân lực ngành nông nghiệp chưa đáp ứng được yêu cầu ứng dụng các thành tựu KHCN mới; Năng lực thích ứng với BĐKH của ngành nông nghiệp chưa có bước cải thiện rõ rệt…

Định hướng giải pháp cơ bản

Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) 5 năm 2016-2020 tại Đại hội XIII của Đảng đã xác định: “Khuyến khích phát triển nông nghiệp xanh, sạch, nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ, NNCNC, thông minh, thích ứng với BĐKH”.

Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021-2030 chỉ rõ: “Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp, khai thác và phát huy lợi thế nền nông nghiệp nhiệt đới, phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn theo hướng hiện đại…; thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng phù hợp với lợi thế và nhu cầu thị trường; nâng cao khả năng chống chịu, thích ứng của nông nghiệp, nông dân với BĐKH từng vùng, miền”; “Chủ động thích ứng với BĐKH, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh”.

Điểm mới xuyên suốt trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng về phát triển nông nghiệp là nhấn mạnh yếu tố KHCN, đổi mới sáng tạo, đặc biệt là việc tận dụng những thành tựu của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0) và nâng cao khả năng thích ứng của nông nghiệp với BĐKH.

Điều này do, thứ nhất, trong bối cảnh CMCN4.0, việc tận dụng cơ hội là hết sức quan trọng để áp dụng những công nghệ mới nhất có tính đột phá trong phát triển nông nghiệp, tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững đất nước; thứ hai, nền kinh tế nước ta phát triển theo chiều rộng đã tới hạn, cần đẩy mạnh phát triển theo chiều sâu; thứ ba, BĐKH vừa là vấn đề cấp bách toàn cầu, vừa là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia.

Để triển khai Nghị quyết Đại hội XIII về phát triển NNCNC, thích ứng với BĐKH, trong thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ một số định hướng giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách phát triển CNC trong nông nghiệp, thích ứng với BĐKH. Xem xét thí điểm một số cơ chế chính sách đặc thù cho các vùng chuyên canh; thúc đẩy hợp tác quốc tế để hỗ trợ ngành nông nghiệp thích ứng với BĐKH và phát triển sinh kế bền vững. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất lúa; bảo vệ và phát triển rừng gắn với xóa đói giảm nghèo…

Hai là, đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch sản xuất. Kết hợp giữa cơ cấu lại theo nhóm sản phẩm chủ lực với cơ cấu lại theo lĩnh vực và cơ cấu lại theo vùng. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất nông nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Xây dựng quy trình canh tác cho các cây trồng chủ lực tại mỗi vùng, bảo đảm năng suất, bảo vệ đất, có khả năng thích ứng với BĐKH.

Ba là, thúc đẩy ứng dụng CNC trong nông nghiệp; ưu tiên phát triển giống cây trồng, vật nuôi mới cho năng suất cao, khả năng chống chịu tốt, thích ứng với điều kiện các vùng sinh thái. Đổi mới tổ chức sản xuất và thúc đẩy liên kết chuỗi giá trị; Nghiên cứu và ứng dụng CNC trong sản xuất, chế biến, triển khai các chương trình nghiên cứu trọng điểm. Thực hiện chuyển giao công nghệ, lựa chọn nhập khẩu CNC thuộc danh mục ưu tiên, nghiên cứu, thử nghiệm, làm chủ và thích ứng với điều kiện thực tế của từng vùng, miền.

Bốn là, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào NNCNC; Nhân rộng mô hình trung tâm/vườn ươm tạo doanh nghiệp NNCNC. Khuyến khích nông hộ làm NNCNC. Đẩy mạnh xúc tiến, tìm kiếm thị trường, thực hiện chuỗi liên kết – tiêu thụ. Khai thác hiệu quả cơ hội từ các hiệp định tự do thương mại; Nâng cao năng lực phân tích, nghiên cứu, dự báo thị trường.

Năm là, xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và BĐKH; dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường, dịch bệnh. Nâng cao năng lực nghiên cứu, giám sát BĐKH, dự báo khí tượng, thủy văn và cảnh báo thiên tai; năng lực chủ động phòng tránh, giảm nhẹ, năng lực chống chịu và thích ứng với BĐKH. Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế trong quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, thích ứng với BĐKH.

Sáu là, đổi mới phương pháp đào tạo nhân lực ngành nông nghiệp, tài nguyên, môi trường, phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với BĐKH. Gắn đào tạo với thị trường, đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất kinh doanh. Thực hiện chỉ tiêu đến năm 2025, tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt trên 55%. Có chính sách thu hút các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ trẻ làm việc trong ngành nông nghiệp.

Như vậy, phát triển NNCNC, thích ứng với BĐKH là một chủ trương hoàn toán đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng, giúp thay đổi bức tranh nông nghiệp nước nhà, đưa nền nông nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển trong thời đại CMCN4.0./.

———————————

[1] https://thanhphohaiphong.gov.vn: Nhìn lại năm 2020: Một năm thiên tai khốc liệt và dị thường. 19/12/2020

[2] http://phongchongthientai.mard.gov.vn:  Tình hình thiên tai tháng 8 và từ đầu năm 2021

[3] https://laodong.vn: Biến đổi khí hậu: Nông nghiệp phải thích nghi và biến thành lợi thế. 26/10/2020

[4] Dara: “Climate vulnerability monitor. A guide to the cold calculus of a hot planet, 2nd Edition”, Climate vulnerable forum, Spain, 2012

[5] https://dangcongsan.vn: Khoa học công nghệ góp phần phát triển nông nghiệp. 13/7/2021

[6] Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2016 – 2020 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2021 – 2025 tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Nxb CTQG-ST, 2021.

[7] Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021-2030, Nxb CTQG-ST, 2021.

[8] https://www.mard.gov.vn: Phê duyệt kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2021 – 2025. 26/2/2021

Nguyễn Nhâm

Trích nguồn: https://dangcongsan.vn

Hội nghị Viên chức năm 2022

Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội nghị Viên chức năm 2022

Ngày 22/12/2021, Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao (TTDN) tổ chức Hội nghị Viên chức năm 2022.

Đến tham dự Hội nghị có Đồng chí Nguyễn Duy Sơn – Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM; đồng chí Lê Văn Cửa – ĐUV, Chủ tịch Công đoàn, Phó Trưởng ban Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghiệp cao TP.HCM; cùng các đồng chí trong Đảng ủy, Ban Giám đốc, Ban Chấp hành Công đoàn của các Trung tâm trực thuộc Ban Quản lý Khu Nông nghiệp công nghệ cao TPHCM; toàn thể Ban Giám đốc, viên chức, người lao động TTDN.

Quan cảnh hội nghị

Năm 2021, đội ngũ viên chức, người lao động TTDN luôn nỗ lực, cố gắng phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Tập thể cơ quan đoàn kết, thống nhất nhiệt tình tham gia các phong trào do Công đoàn phát động. Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác. Nhờ đó, năm 2021, dù chịu tác động của dịch bệnh COVID-19, song Ban Giám đốc TTDN cũng đã chỉ đạo và thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.

Các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho viên chức, người lao động đã được Công đoàn TTDN quan tâm. Trong đó đã giải quyết kịp thời các chế độ chính sách đối với viên chức, người lao động như: BHXH, BHYT, nâng lương, ngày Lễ – Tết…nâng cao đời sống tinh thần, sức khỏe và mở rộng mối quan hệ phối hợp hoạt động giữa các công đoàn thành viên của Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao.

Tại Hội nghị đã nghe báo cáo thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở của TTDN do đồng chí Trần Thị Kim Hằng – Phó giám đốc TTDN trình bày; báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Hội nghị viên chức, người lao động và giao ước thi đua giữa Chính quyền với Công đoàn năm 2021 do đồng chí Chủ tịch Công đoàn trình bày; báo cáo công khai tài chính năm 2021, thông qua dự thảo Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2022 do đồng chí Kế toán trưởng TTDN trình bày; báo cáo hoạt động Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2019 – 2021 và phương hướng hoạt động Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2021 – 2023 do đồng chí thành viên Ban Thanh tra nhân dân trình bày.

Các đồng chí trong ban lãnh đạo Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao phát biểu chỉ đạo và trao đổi tại Hội nghị.

Đồng chí Nguyễn Duy Sơn – Bí thư Đảng ủy, Phó ban Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao TPHCM phát biểu tại Hội nghị

Đồng chí Lê Văn Cửa – ĐUV, Chủ tịch Công đoàn, Phó Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghiệp cao TPHCM phát biểu tại hội nghị

Hội nghị cũng đã tích cực tham gia thảo luận, nhất trí Nghị quyết Hội nghị viên chức năm 2022 và Quy chế chi tiêu nội bộ năm 2022. Theo đó, viên chức, người lao động TTDN sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, nỗ lực khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo trong công việc; tích cực nghiên cứu, học tập để nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ; phát huy hơn nữa tinh thần trách nhiệm, gương mẫu trong mọi hoạt động. Công đoàn thành viên TTDN sẽ làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tích cực vận động viên chức, người lao động tham gia có hiệu quả các phong trào thi đua yêu nước; quan tâm hơn nữa tới quyền và lợi ích của các đoàn viên..

  Ban Chấp hành công đoàn cơ sở thành viên và Giám đốc Trung tâm ký kết giao ước thi đua

Hội nghị đã bầu Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2021 – 2023; Ban chấp hành Công đoàn cơ sở thành viên TTDN và Giám đốc TTDN phát động phong trào, ký kết giao ước thi đua trong viên chức, người lao động năm 2022. Đồng thời khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong năm 2021.

Ban Thanh tra nhân dân nhiệm kỳ 2021 – 2023

Khen thưởng các tập thể, cá nhân đạt thành tích trong năm 2021

Kết luận Hội nghị, đồng chí Hoàng Anh Tuấn – ĐUV, Phó Bí thư chi bộ, Giám đốc TTDN tiếp thu các ý kiến đóng góp của toàn thể viên chức, cám ơn những ý kiến trao đổi quý báu của đồng chí Lãnh đạo. Đây là những ý kiến rất quan trọng, sẽ bổ sung vào văn kiện Hội nghị. Viên chức, người lao động TTDN quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ đề ra trong năm 2022./.

 

Hợp tác xã nông nghiệp thúc đẩy chuyển đổi số, thích ứng thời đại 4.0

Trong bối cảnh hiện nay khi có rất nhiều thách thức từ nội tại và bối cảnh bên ngoài, hợp tác xã nông nghiệp đã và đang có nhiều sự thay đổi tích cực với những cách làm, hướng đi mới để không ngừng thích ứng với tình hình, vượt qua giai đoạn khó khăn và hướng đến tương lai phát triển lâu dài.

Khó khăn cố hữu hạn chế HTX vươn rộng ra thị trường

Hợp tác xã (HTX) có vai trò rất quan trọng trong quá trình thúc đẩy sự phát triển của ngành nông nghiệp. Với đặc thù sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ như hiện nay, các HTX chính là “cánh tay nối dài” giữa các hộ nông dân với các doanh nghiệp, đồng thời giúp cung cấp các vật tư đầu vào, hướng dẫn người dân sản xuất theo quy trình, đảm bảo đầu ra cho các nông sản.

Chính vì vậy, việc tháo gỡ các khó khăn nội tại hiện có của HTX là điều cần thiết để đưa sản xuất của ngành nông nghiệp ngày càng có hiệu quả, gia tăng và ổn định thu nhập cho người nông dân. Đặc biệt, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như tác động của dịch COVID-19 đang đòi hỏi các HTX cần có nhiều thay đổi để thích ứng, phù hợp với tình hình, bắt nhịp với thời cuộc.

Theo số liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến hết tháng 6/2021, cả nước có 17.776 HTX nông nghiệp và 78 Liên hiệp HTX nông nghiệp. So với thời điểm tháng 6/2017 khi bắt đầu thực hiện Đề án 15.000 HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả của Chính phủ, số lượng HTX nông nghiệp cả nước đã tăng 6.088 HTX. Như vậy trong 4 năm qua, bình quân mỗi năm cả nước tăng khoảng 1.500 HTX. Tốc độ tăng về số lượng này cao gấp hơn 3 lần giai đoạn trước đó (2012-2016). Tỷ lệ HTX được đánh giá xếp loại khá, tốt hiện nay là khoảng 60%; loại trung bình chiếm 30%; còn lại 10% yếu kém.

Tuy nhiên, qua đánh giá của Bộ NN&PTNT cho thấy, hoạt động của HTX vẫn còn rất nhiều khó khăn tồn tại. Thực tế còn nhiều HTX có quy mô sản xuất, kinh doanh nhỏ, số lượng thành viên ít. Quá trình mở rộng số lượng thành viên, quy mô kinh doanh, tích lũy vốn, tài sản diễn ra chậm. Tổng số vốn, tài sản của HTX nông nghiệp khoảng 15.200 tỷ đồng, trung bình một HTX nông nghiệp chỉ có tổng số vốn, tài sản 871 triệu đồng. Nếu so với số vốn hoạt động của HTX nông nghiệp năm 2013 khoảng 702 triệu đồng/HTX thì thấy quá trình tích lũy vốn của HTX nông nghiệp diễn ra còn chậm.

Bên cạnh đó, số lượng thành viên trung bình của một HTX nông nghiệp nhỏ và có xu hướng giảm dần. Chính việc quy mô nhỏ, vốn thấp gây nhiều khó khăn cho HTX trong việc mở rộng hoạt động và phát triển hoạt động mới và trong việc đối ứng để tiếp cận nguồn hỗ trợ của nhà nước. Vốn ít và tích lũy vốn chậm cũng ảnh hưởng tiêu cực đến tiếp cận vốn tín dụng của hợp tác xã nông nghiệp.

Điểm đáng chú ý, mặc dù trong những năm qua, tỷ lệ HTX tham gia vào chuỗi giá trị tăng đều hàng năm, nhưng còn ở mức thấp. Nhiều HTX có liên kết chuỗi giá trị nhưng tỷ lệ sản phẩm tham gia liên kết rất thấp, tỷ lệ HTX có hoạt động sau thu hoạch như sơ chế, chế biến và thương mại sản phẩm còn thấp. Chưa đến 10% HTX nông nghiệp có ứng dụng công nghệ cao. Trong khi đó, tham gia chuỗi giá trị và ứng dụng khoa học công nghệ là những hoạt động quan trọng để HTX thu hút thành viên, tạo giá trị giá tăng cho thành viên và hợp tác xã và đảm bảo sự phát triển bền vững của HTX nông nghiệp.

Chia sẻ của HTX Thanh Bình Thabi Farm (Đồng Nai) cho biết, hiện nay, HTX đang phát triển theo hướng hữu cơ, chuẩn hữu cơ. Tuy nhiên, HTX gặp rất nhiều khó khăn trong đồng bộ sản xuất. Đó là vườn trồng của các xã viên diện tích nhỏ, manh mún, không liên kết tạo thành cánh đồng… nên việc kiểm soát dịch bệnh, sử dụng các hoạt chất chưa có sự đồng nhất. HTX vừa phải đảm bảo sản xuất, vừa phải lo công tác tiêu thụ. Về chuối, hiện, HTX có diện tích hơn 2.000 ha, sản lượng hàng năm có nhu cầu tiêu thụ rất lớn. Chính vì vậy, HTX rất mong muốn, các đơn vị kết nối, doanh nghiệp có hệ sinh thái tốt liên kết với HTX xây dựng vùng trồng chuối tập trung; đồng thời, tổ chức lại sản xuất, đi đúng hướng theo yêu cầu của thị trường.

Theo bà Trần Huyền Anh, đại diện HTX nông nghiệp CHOA, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh, HTX có 23 vùng nguyên liệu, với tổng diện tích hơn 10.000 ha. Sản phẩm chính của HTX là đặc sản bưởi Phúc Trạch. Tuy đạt được nhiều kết quả trong hoạt động sản xuất, nhưng hiện nay, HTX vẫn gặp khó khăn về kho vận, logistics trong quá trình đưa sản phẩm đến người dùng. Bên cạnh đó, bà Huyền Anh cho biết, năng lực quản trị để mở rộng vùng nguyên liệu đạt chuẩn, tiến tới xuất khẩu ra nước ngoài cũng là một vấn đề HTX cần cải thiện. Đồng thời, HTX có nhu cầu ưu đãi về vốn nhằm đẩy mạnh sản xuất, cơ giới hóa,…

HTX Rau quả sạch Chúc Sơn minh bạch toàn bộ quá trình sản xuất, sử dụng mã vạch để người tiêu dùng có thể cập nhật thông tin từ khâu trồng, chăm sóc đến thu hoạch (Nguồn ảnh: dantocmiennui.vn).

Thúc đẩy chuyển đổi số, áp dụng nông nghiệp thông minh

Với những khó khăn cố hữu còn tồn tại cùng với nhiều sự biến động trong thời gian qua, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch COVID-19 đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình áp dụng công nghệ để các mặt hàng nông sản đến tay người tiêu dùng. Các HTX cũng không là ngoại lệ, khi cố gắng tự tìm tòi cho bản thân những hướng đi, cách làm mới để vượt qua khó khăn.

Theo chia sẻ của đại diện HTX dịch vụ nông nghiệp và chế biến 19/5 Sơn La, trước dịch COVID-19, HTX có đơn hàng ổn định với các siêu thị, nhà hàng. Song hai năm qua, tình hình đã đổi khác. HTX phải chuyển tư duy kinh doanh từ “ăn ngon, mặc đẹp” sang “ăn chắc, mặc bền” do đối tác cũng phải căn cơ hơn. Theo đó, HTX này đang tận dụng phân thải của chăn nuôi để chăm sóc đồng ruộng. Các phụ liệu như hoa quả thừa, củ quả thừa cũng phải tận dụng với phương châm: đầu ra của chăn nuôi là đầu vào của trồng trọt. Ngăn cách do dịch bệnh cũng khiến HTX chuyển hướng tiêu thụ tại địa phương.

Đại diện HTX 19/5 nhấn mạnh, càng trong những lúc khó khăn, thì vai trò của chính quyền địa phương trong việc giúp đỡ, tạo điều kiện cho HTX là rất quan trọng. Mặt khác, việc chuyển đổi số hóa sang dùng ứng dụng trên điện thoại hay kinh doanh trực tuyến là điều rất cần thiết để thích ứng với tình hình mới.

Thực tế đã có rất nhiều HTX trong thời gian vừa qua đã cố gắng ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, áp dụng nông nghiệp thông minh,…để vượt qua những tác động do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 và giúp ổn định, tăng doanh thu cho HTX. Ông Nguyễn Văn Cường, Giám đốc HTX Mật ong Cường Nga (Hà Tĩnh) cho biết, với tiềm năng, lợi thế từ đàn ong bản địa lớn, hàng năm cho năng suất mật cao. Đến cuối năm 2019, sản phẩm Mật ong Cường Nga đã được đánh giá sản phẩm OCOP 3 sao. Trong thời gian dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nhưng bằng việc ứng dụng nông nghiệp thông minh, đặc biệt là tham gia kết nối thương mại điện tử nông sản trên Cổng Blockchain chuyển đổi số HTX nông nghiệp, việc kết nối giao thương của HTX vẫn diễn ra thuận lợi thông qua hình thức bán hàng trực tuyến, qua đó tiêu thụ được hơn 7.000 lít mật ong, thu về khoảng 3 tỷ đồng.

Tương tự, với HTX Rau quả sạch Chúc Sơn – một trong số ít HTX ở Hà Nội tiên phong trong việc phát triển chuỗi thực phẩm sạch gắn với nông nghiệp thông minh và chuyển đổi số trong nông nghiệp. Do những khó khăn trong việc kết nối tiêu thụ, HTX đã ứng dụng Công nghệ 4.0 eGap & eGap.vn, iMetos của Liên hiệp HTX Kinh tế số Việt Nam nhằm phục vụ chuyển đổi số trong hệ thống HTX với các giải pháp đồng bộ như: nhật kí điện tử, hệ thống quản lý sản xuất bằng điện thoại thông minh, hệ thống camera giám sát đồng ruộng, tem truy xuất nguồn gốc QR code gắn với bộ nhận diện nhãn hiệu HTX Rau quả sạch Chúc Sơn.

Nhờ việc phát triển đồng bộ các giải pháp gắn với chuyển đổi số nông nghiệp, nông nghiệp thông minh, ứng dụng các hệ thống giám sát minh bạch đến các sàn thương mại điện tử, bước đầu đã giúp cho nông dân của HTX mở rộng, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp, nâng cao tương tác giữa người nông dân với người tiêu dùng. Chính vì vậy, mặc dù thời gian qua, tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp đã làm đứt gãy một số chuỗi cung ứng thực phẩm nhưng chuỗi sản xuất tiêu thụ của HTX Rau quả sạch Chúc Sơn vẫn duy trì, phát triển ổn định. Doanh thu của HTX năm 2021 ước đạt khoảng 14 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2020.

Nhấn mạnh đến vai trò của việc áp dụng công nghệ về tem truy xuất thông minh trong hoạt động của HTX, ông Lê Đức Thịnh – Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) cho rằng, việc áp dụng này có vai trò rất quan trọng trong việc giúp minh bạch hóa quy trình sản xuất, cung cấp thông tin sản phẩm cho thị trường một cách chính xác nhất, đồng thời, đảm bảo yêu cầu về đầu ra cho doanh nghiệp.

Cũng theo ông Lê Đức Thịnh, trong bối cảnh mới của kinh tế, xã hội cũng như thị trường trong nước, thế giới, các HTX cần phải chủ động thích ứng bằng nhiều giải pháp. Thứ nhất, cần đầu tư cho nguồn nhân lực; thứ hai, nâng cao tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp theo hướng an toàn, tích hợp đa giá trị, thực hiện kinh tế nông nghiệp tuần hoàn. Thứ ba, đổi mới tư duy trong kinh doanh và liên kết và cần tiếp tục mở rộng quy mô của các HTX thông qua nhiều giải pháp khác nhau, từ tăng thành viên đến việc kết hợp với các HTX khác trong cùng lĩnh vực để mở rộng kinh doanh và hợp tác trong các hệ sinh thái. Thứ tư, trong quá trình chuyển đổi, phát triển, các HTX cũng cần thay đổi tư duy trong liên kết với các doanh nghiệp đầu ra, cần phải tăng tính cam kết, chia sẻ giữa HTX và các doanh nghiệp đầu vào, đầu ra. Đặc biệt, rất cần những hợp tác cụ thể, không chỉ là câu chuyện bán hàng mà còn là sự hỗ trợ, tương tác của hai bên trong việc xử lý vốn, xử lý công nghệ,…

Thực tế trong bối cảnh có nhiều biến động như hiện nay, việc các HTX có nhiều thay đổi trong cách điều hành nội  bộ, sản xuất, kết nối với thị trường là điều cần thiết để tồn tại và tăng doanh thu, hiệu quả hoạt động. Đây cũng là những đòi hỏi cần thiết để thích ứng với bối cảnh, tình hình mới. Trong đó, với việc ngày càng có nhiều HTX áp dụng sản xuất nông nghiệp thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số, hy vọng, trong tương lai không xa, HTX nông nghiệp sẽ ngày càng có nhiều chuyển biến mới, phát huy vai trò kết nối sản xuất, nâng cao giá trị nông sản, tăng thu nhập cho người nông dân, đóng góp tích cực cho sự phát triển của ngành nông nghiệp./.

Trích nguồn BT – ĐCSVN.

Hội nghị đối thoại VC-NLĐ Quý IV năm 2021

Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đối thoại giữa người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập với viên chức, người lao động quý IV năm 2021

Ngày 01/12/2021, Lãnh đạo Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh. Ban giám đốc gồm có: đồng chí Hoàng Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao; đồng chí Trần Thị Kim Hằng – Phó giám đốc Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao; đồng chí Nguyễn Chí Dũng – Phó giám đốc Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao đã tổ chức tiếp xúc đối thoại giữa người đứng đầu đơn vị với viên chức, người lao động quý VI năm 2021.

Trong không khí thẳng thắn, cởi mở và xây dựng, tại buổi tiếp xúc đối thoại đã có nhiều ý kiến phát biểu, các ý kiến chủ yếu tập trung vào các chế độ tiền lương, chế độ khám sức khỏe, chế độ nghĩ dưỡng, chế độ tăng thu nhập, phúc lợi đối với của viên chức và người lao động của đơn vị trong thời kỳ dịch COVID-19.

Đồng chí Bùi Hoàng Giang – viên chức Trung tâm Dạy nghệ Công nghệ cao TPHCM  đóng góp ý kiến tại Hội nghị

Đồng chí Huỳnh Minh Hổ – viên chức Trung tâm Dạy nghệ Công nghệ cao TPHCM  đóng góp ý kiến tại Hội nghị

Với tinh thần trách nhiệm cao, các đồng chí lãnh đạo Trung tâm Dạy nghề Công nghệ cao TPHCM đã lắng nghe và tiếp thu các ý kiến, kiến nghị cũng như các ý kiến đề xuất các giải pháp nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần cho viên chức, người lao động của Trung tâm. Những vấn đề viên chức, người lao động phản ánh, trao đổi đều được lãnh đạo trung tâm tiếp thu, trả lời tại buổi đối thoại. Việc tổ chức diễn đàn đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo đơn vị với viên chức, người lao động là dịp để viên chức, người lao động tham gia, đóng góp ý kiến giúp Ban Giám đốc Trung tâm nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của viên chức, người lao động để kịp thời giải quyết những bức xúc để tạo sự đồng thuận trong cơ quan.

LỄ KẾT NẠP ĐẢNG VIÊN

Bồi dưỡng, kết nạp đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, góp phần phát triển, nâng cao chất lượng và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng nói chung và các cá nhân đảng viên nói riêng. Với ý nghĩa đó, được sự giúp đỡ của Chi bộ Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao và sự nỗ lực, phấn đấu của bản thân, đồng chí Nguyễn Vũ Hồng Nga đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Vấn đề phát triển Đảng là vấn đề quan trọng trong xây dựng Đảng. Đảng phải có một số lượng đảng viên nhất định mới hình thành nên tổ chức đảng. Sự nghiệp lãnh đạo cách mạng của Đảng là sự nghiệp vĩ đại lâu dài phải do nhiều thế hệ chiến sĩ cộng sản tham gia gánh vác. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu chỉ có thể có trên cơ sở số lượng, chất lượng đội ngũ đảng viên tương ứng. Do đó, Đảng phải thường xuyên làm tốt công tác phát triển đảng”.

Ngày 25/10/2021 được sự đồng ý của Đảng uỷ Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao, Chi bộ Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao tổ chức Lễ kết nạp đảng viên cho quần chúng Nguyễn Vũ Hồng Nga – Trưởng phòng Kế hoạch – Tài chính, Chủ tịch Công đoàn cơ sở thành viên Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Duy Sơn – Bí thư Đảng ủy BQL – Bí thư Chi bộ Trung tâm Dạy nghề đã công bố và trao Quyết định kết nạp Đảng; đồng thời quán triệt nhiệm vụ, quyền hạn của người đảng viên, nhiệm vụ của Chi bộ, phân công đảng viên chính thức tiếp tục giúp đỡ đồng chí Nguyễn Vũ Hồng Nga trong thời gian đảng viên dự bị.

Sau khi nhận quyết định từ Bí thư Chi bộ, đồng chí đảng viên mới đã đọc lời tuyên thệ và hứa sẽ tiếp tục phấn đấu để luôn xứng đáng là người đảng viên gương mẫu, đóng góp sức mình thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị của Chi bộ, góp phần xây dựng Chi bộ ngày càng vững mạnh.

Một số hình ảnh của buổi lễ kết nạp Đảng:

TP Hồ Chí Minh: Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Thứ hai, 18/10/2021 15:30 (GMT+7)

(ĐCSVN) – Nắm bắt xu thế phát triển tất yếu trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, TP Hồ Chí Minh đã và đang tập trung nguồn lực ưu tiên phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hướng tới nền nông nghiệp đô thị, hiện đại, bền vững.

Theo thống kê, nông nghiệp TP Hồ Chí Minh chỉ chiếm khoảng 1% GRDP toàn thành phố. Nông nghiệp không thể so sánh với công nghiệp, dịch vụ hay du lịch nhưng lại đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội của thành phố. Trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, điều kiện sản xuất ngày càng khó khăn (đặc biệt là do nguồn đất và nguồn nước bị ô nhiễm do các nhà máy, khu công nghiệp xả thải)… thì phát triển nông nghiệp đô thị, ứng dụng khoa học công nghệ và xu hướng tất yếu và cấp thiết của nông nghiệp thành phố.

 Rau trồng tại khu nông nghiệp công nghệ cao TP Hồ Chí Minh. Ảnh: Văn Nguyễn

Tạo điều kiện thuận lợi phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Thời gian qua dù bị dịch COVID-19 gây khó khăn không nhỏ nhưng ngành nông nghiệp TP Hồ Chí Minh được đánh giá là tiếp tục chuyển dịch theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững, tập trung vào các ngành nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học. Thành phố đã ban hành danh mục các sản phẩm chủ lực và tiềm năng của ngành nông nghiệp. Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp của năm 2019 ước đạt 550 triệu đồng/ha/năm, gấp 1,5 lần năm 2015 (367 triệu đồng/ha/năm). Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân ngành giai đoạn 2016 – 2020 là 5,82%/năm. 

Thành phố cũng đã hình thành Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học, Trại Trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao hoạt động bước đầu có hiệu quả; có thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp lớn, nhất là các sản phẩm có giá trị và chất lượng cao từ sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; có khả năng về nguồn lực đầu tư của xã hội cho sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Năng suất lao động khu vực nông nghiệp tăng bình quân 21,1%/năm.

Thực hiện Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về kinh tế trang trại trên địa bàn thành phố, ngay từ giai đoạn 2000-2006, thành phố đã tạo điều kiện để kinh tế hộ nông dân mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua chương trình giống chất lượng cao với mũi đột phá qua chương trình 2 cây – 2 con của thành phố. Từng bước khắc phục tình trạng khó khăn do đô thị hóa, tích cực chuyển dần sang mô hình nông nghiệp đô thị.

Thành phố đã tiếp thu quan điểm của Chính phủ về “phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững; tạo việc làm, tăng thu nhập; khuyến khích làm giàu đi đôi với xóa đói giảm nghèo; phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới”. Với đặc thù là 1 thành phố lớn nhất cả nước, có tốc độ đô thị hóa cao nên nông nghiệp cần phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, đó là áp dụng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất, sản lượng, tạo ra giá trị sản xuất lớn trên 1 đơn vị diện tích.

UBND Thành phố đã chỉ đạo phát triển mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ và giúp cho ngành nông nghiệp liên tục tăng trưởng mặc dù diện tích đất sản xuất bị thu hẹp dần. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bình quân giảm trên 900ha/năm, số hộ nông lâm ngư nghiệp bình quân giảm 6,38%/năm. Tuy nhiên, nhờ ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, giống cây con chất lượng cao, chuyển dịch sang các loại cây trồng vật nuôi có giá trị, hiệu quả kinh tế cao, chính sách hỗ trợ lãi vay đầu tư sản xuất nông nghiệp,… nên tốc độ tăng trưởng GRDP ngành nông nghiệp bình quân giai đoạn 2008-2020 đạt 4,4%/năm.

Mô hình trồng dưa lưới công nghệ cao trong nhà kính tại huyện Củ Chi mang lại hiệu quả kinh tế cao. Ảnh: Hữu Hảo 

Thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị, hiện đại, bền vững

Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ XI nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã định hướng “Phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, bền vững gắn với chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới”. Theo đó, Thành phố sẽ tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp; tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây, giống con chất lượng và năng suất cao, từng bước hình thành trung tâm giống cây, giống con của khu vực; phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực để tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. 

Thực hiện định hướng trên, UBND TP Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định về phê duyệt Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao trên địa bàn thành phố giai đoạn 2020 – 2030. Theo đó, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030, đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, trong đó tập trung vào công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa và các công nghệ tiên tiến để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao về giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Nâng tỉ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2030 chiếm từ 75% – 85% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố; Trên 70% hộ nông dân, trên 80% doanh nghiệp ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mang tính công nghệ cao về giống, quy trình canh tác, công nghệ sau thu hoạch; trên 30% hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao…

Cùng với đó, đẩy mạnh công tác đào tạo nguồn nhân lực nâng cao kỹ thuật, kỹ năng sử dụng vận hành công nghệ và làm chủ công nghệ trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; cập nhật thông tin kiến thức về tiến bộ khoa học công nghệ, kỹ năng thực hành ứng dụng công nghệ cao trong lĩnh vực nông nghiệp; hỗ trợ cho việc hình thành và hoạt động có hiệu quả doanh nghiệp trong ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực cây trồng, chăn nuôi và thủy sản.

Theo Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn TP Hồ Chí Minh Đinh Minh Hiệp, thành phố đang tập trung tháo gỡ những khó khăn phát triển nông nghiệp, trước mắt chú trọng phát triển sản xuất giống cây con chất lượng cao nhằm nâng cao giá trị gia tăng và năng suất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực. Năm 2021, ngành Nông nghiệp thành phố phấn đấu tăng trưởng 2-2,5%; giá trị sản xuất bình quân đạt 630-650 triệu đồng/ha; có chứng nhận VietGAP cho 76% diện tích trồng rau; 72% số hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả… Kinh tế nông nghiệp thành phố dần chuyển dịch sang nông nghiệp đô thị, công nghệ cao.

Phó Chủ tịch UBND thành phố Võ Văn Hoan cũng cho biết: Ngành Nông nghiệp thành phố phấn đấu đến năm 2030 đưa giá trị gia tăng trên một đơn vị sản xuất đất nông nghiệp đạt từ 900 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha/năm, cao gấp 2 đến 2,5 lần so với giai đoạn 2010-2019. Giá trị giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao và sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao sẽ cao hơn các giống, sản phẩm thông thường 6-8%, thúc đẩy phát triển nông nghiệp đô thị, hiện đại, bền vững./.

Yến Phương (th)