Xử lý hạt giống bằng Neonicotinoid, lợi bất cập hại?

Phương pháp xử lý hạt giống sử dụng Neonicotinoid, nhằm chống lại vô thiên lủng các loại côn trùng gây hại hiện đang đặt ra nhiều dấu hỏi cả về kinh tế và môi trường. Theo các nhà khoa học, sở dĩ ngành trồng trọt phải dùng Neonicotinoid là để chống lại nhiều kẻ săn mồi sẵn sàng chực chờ vồ ngay lấy những hạt ngô hoặc đậu tương, mỗi khi chúng được gieo xuống đất.

Phương pháp xử lý hạt giống sử dụng Neonicotinoid, nhằm chống lại vô thiên lủng các loại côn trùng gây hại hiện đang đặt ra nhiều dấu hỏi cả về kinh tế và môi trường.

Năng suất cây trồng tăng lên

Theo các nhà khoa học, sở dĩ ngành trồng trọt phải dùng Neonicotinoid là để chống lại nhiều kẻ săn mồi sẵn sàng chực chờ vồ ngay lấy những hạt ngô hoặc đậu tương, mỗi khi chúng được gieo xuống đất.

Hạt giống được tẩm trộn thuốc trước khi gieo trồng. Ảnh: Scientific Beekeeping

Bên cạnh dịch bệnh, các loài gây hại sống dưới đất như giun xoắn và ấu trùng cũng có thể gây hại hạt giống và cây con cùng với các loại côn trùng trên mặt đất như bọ cánh cứng lá đậu, rệp cũng có thể đe dọa hạt giống và cây non.

Do đó trong lĩnh vực xử lý hạt giống chống côn trùng và trừ bệnh, nông dân vẫn thường xử lý hạt giống kết hợp cả với thuốc trừ nấm (IST) để giúp cho cây nảy mầm mọc thẳng và tăng trưởng sớm.

Có thể dễ dàng kể tới một số phương pháp IST thuộc họ Neonicotinoid phổ biến hiện nay như Imidacloprid (của các hãng Gaucho, Bayer Crop Science), Clothianidin (Poncho, BASF) và Thiamethoxam (Cruiser, Syngenta)…

Seth Naeve, nhà nông học chuyên nghiên cứu đậu tương của Đại học Minnesota Extension (Mỹ) cho biết, thuốc bảo vệ thực vật diệt côn trùng họ Neonicotinoid có khả năng hòa tan trong nước cao, giúp kích hoạt khả năng bảo vệ khỏi côn trùng đầu mùa tuyệt vời.

Shawn Potter, người đứng đầu bộ phận tiếp thị sản phẩm chăm sóc hạt giống của Syngenta chia sẻ, sự tăng trưởng của hạt giống sau khi xử lý đã được thúc đẩy một phần nhờ các mùa vụ trước đó. “Việc gieo hạt sớm hơn từ lúc đất còn ẩm, mát mẻ hoặc cả hai sẽ khiến hạt giống và cây con bị nhiễm nhiều loại dịch bệnh khác nhau. “Nếu không có biện pháp xử lý hạt giống, mùa màng sẽ có thể thiệt hại ngay từ sớm”, ông Potter nói.

Nick Tinsley, chuyên gia kỹ thuật của công ty BASF cho biết thêm: “Nông dân cũng như các nhà bán lẻ đều có thể dễ dàng xử lý các loại hạt giống ngô và đậu tương bằng thuốc trừ sâu Neonicotinoid cũng như thuốc diệt nấm của các hãng sản xuất để bảo vệ mùa màng”.

Trong nhiều thập kỷ qua, các công ty hạt giống đều đã xử lý ngô bằng thuốc diệt nấm. Tuy nhiên, IST thì chỉ mới bắt đầu được bổ sung thêm vào phương pháp xử lý hạt giống bằng thuốc diệt nấm ở đậu nành vào đầu những năm 2000.

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, việc kết hợp xử lý hạt giống bằng cả thuốc trừ nấm và thuốc trừ sâu làm tăng năng suất đậu tương mỗi mẫu Anh lên 2 giạ (tương đương 72,74 kg/0,4ha). Theo ông Potter, nhìn chung mỗi “ca” xử lý combo trừ sâu/nấm gây hại đậu tương sẽ có giá từ 10 đến 12 USD cho mỗi đơn vị hạt giống (dao động từ 80.000 đến 140.000 hạt giống/0,4ha).

Lý do bởi 70% chi phí xử lý là cho thuốc trừ sâu, trong khi tỷ lệ chốt lợi nhuận cho mỗi mẫu Anh là từ 16 đến 17 USD. Điều này giả định rằng, đậu nành có giá 12 USD một giạ và chi phí cho phần thuốc trừ sâu xử lý hạt giống là từ 7 đến 7,50 USD cho mỗi đơn vị hạt giống.

Các nhà côn trùng học ở vùng Trung Nam và Nam nước Mỹ cũng đã quan sát thấy, năng suất trung bình của đậu tương tăng đột biến là 2 giạ trên một mẫu Anh từ sự kết hợp này. Sebe Brown, nhà côn trùng học thuộc Đại học Louisiana cho biết: “Một số năm cao hơn, một số năm thấp hơn. Các phản hồi có xu hướng cao hơn trong các trường hợp đậu tương được gieo trồng sớm, hai vụ, hoặc trồng sau một vụ che phủ”.

Gus Lorenz, nhà khoa học ở Đại học Arkansas cho biết thêm: “Các công ty đã cung cấp bảo hiểm cho người trồng để duy trì vị thế tốt. Với giá hạt giống hiện nay, chi phí xử lý hạt giống bằng thuốc trừ sâu là một khoản đầu tư tốt

Một tổng hợp các nghiên cứu trong một báo cáo năm 2019 đại diện cho các nhà nông học và côn trùng học từ 14 trường đại học cho thấy, năng suất đậu tương được ghi nhận tốt nhất là tăng 3,3 giạ trên một mẫu Anh sau khi dùng giải pháp xử lý hạt giống kết hợp. Tuy nhiên trong một số trường hợp tại Minnesota, lợi ích gần như không đáng kể nên có ý kiến cho rằng, không khuyến khích nông dân sử dụng phương pháp xử lý hạt giống hoặc nên áp dụng một cách có chọn lọc.

Những quan ngại

Trước đó, các nhà khoa học cho rằng thuốc trừ sâu họ Neonicotinoid là nguyên nhân chính gây giảm số lượng đàn ong và các loài thụ phấn trên toàn thế giới. Cách nay vài năm, Liên Hợp quốc công bố số liệu đáng báo động: Chỉ trong 10 năm đầu tiên của thế kỉ 21, số lượng ong trên thế giới đã giảm tới 85% ở khu vực Trung Đông, khoảng 30% ở Mỹ và châu Âu.

Neonicotinoid được ví như “thuốc ngừa thai” cho ong và làm giảm mật số của loài ong. Ảnh: GCM

Ong là loài vật trung gian giúp thụ phấn cho hơn 75% cây lương thực và cây ăn trái trên thế giới, vì vậy nếu số lượng ong giảm đi cũng có nghĩa là mùa màng sẽ bị giảm, thậm chí là mất mùa. Tuy nhiên, các nghiên cứu dài hạn của Syngenta lại cho rằng, những tác động là không đáng kể đến sức khỏe của loài ong khi sử dụng phương pháp xử lý hạt giống để diệt côn trùng bằng Neonicotinoid.

Theo ông Potter, điều mà nhiều chuyên gia đồng quan điểm là sức khỏe của loài ong phụ thuộc vào sự tương tác của các yếu tố như ký sinh trùng, bệnh tật, sức khỏe dinh dưỡng và các hiện tượng thời tiết. Một nghiên cứu hồi năm 2019 được đăng tải trên tạp chí Scientific Reports đã nêu chi tiết những tác động mà nồng độ Imidacloprid gây ra đối với hươu đuôi trắng.

Khi Imidacloprid (một loại thuốc trừ sâu hoạt động như một chất độc thần kinh trung ương của côn trùng, thuộc gốc Neonicotinoids) tăng lên trong lá lách của động vật, các yếu tố như khả năng sống sót của thế hệ sau, chiều dài xương hàm, trọng lượng cơ thể và trọng lượng nội tạng đều giảm. Ghi nhận cho thấy, ít nhất 60% hươu đuôi trắng bị giết cho thấy có sự hiện diện của Imidacloprid.

Theo chuyên gia Jonathan Lundgren, tất cả các loại thuốc diệt côn trùng đều có thể tác động tiêu cực đến động vật có vú và ong. “Việc sử dụng các loại thuốc diệt côn trùng hiện nay quá phổ biến, chúng có mặt trên hầu hết các hệ thống trồng trọt ở khắp nước Mỹ và thực sự ràng buộc lẫn nhau. Những loại thuốc diệt côn trùng này đang ảnh hưởng đến hệ sinh thái theo những cách mà chúng tôi không thể dự đoán trước”.

Trong khi đó, các công ty sản xuất, kinh doanh thuốc xử lý hạt giống dùng Neonicotinoid thì luôn bác bỏ điều này và khẳng định “các sản phẩm an toàn nếu được sử dụng theo đúng hướng dẫn trên nhãn mác”.

Chip Graham, Giám đốc kỹ thuật phát triển hạt giống của Bayer Crop Science khu vực Bắc Mỹ cho biết, các hợp chất như polyme bao phủ hạt giống hoặc các sản phẩm như Bayer Fluency Agent Advanced để giúp ngăn chặn sự thoát ra môi trường. “Ban đầu chúng tôi có mức độ bụi thực sự thấp, nhưng những sản phẩm này đảm bảo rằng thuốc trừ sâu vẫn còn trên hạt giống và giảm mức độ ô nhiễm trong quá trình trồng trọt”, ông Graham nói.

Tương lai trồng trọt sẽ ra sao?

Thay vì xử lý hạt giống bằng thuốc diệt côn trùng Neonicotinoid, ông Lundgren kêu gọi các phương pháp tái tạo, chẳng hạn như làm đất và thay đổi thời vụ, tăng tính đa dạng của cây trồng cũng là biện pháp giảm áp lực của sâu bọ, côn trùng. “Người nông dân cần hiểu rằng những phương pháp xử lý hạt giống này thực sự không giúp ích được gì nhiều cho họ”, ông Lundgren cho hay.

Thuốc trừ sâu Neonicotinoid được cho là gây giảm mật số loài ong thụ phấn, đe dọa an ninh lương thực. Ảnh: TN

Trong khi đó chuyên gia Graham thì cho rằng, nếu cấm cách xử lý hạt giống này sẽ gây bất lợi cho nông dân bởi hiện “không có thuốc xịt lá nào để xử lý côn trùng đầu mùa như một ứng dụng giải nguy” nên “xử lý hạt giống theo cách này là hiệu quả nhất để cung cấp hoạt động chống lại sâu bọ, côn trùng đầu mùa trên ngô và đậu tương”.

Nhà nông học Naeve nói: “Chúng là một ví dụ điển hình cho thấy những công cụ tốt nhất mà chúng ta từng có trong nông nghiệp nhưng dùng để xử lý toàn bộ cho diện tích đậu tương lại không phải là một ý kiến ​​hay bởi chúng có thể là một con dao hai lưỡi”.

Neonicotinoid là gì?

Neonicotinoid đã bị cấm sử dụng ở Úc và châu Âu bắt đầu từ năm 2013. Đây là loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc từ nicotine (chất gây nghiện có trong thuốc lá), cách dùng là hòa tan trong nước rồi phun lên cây trồng để cây tự hấp thụ, tạo thành “hệ miễn dịch” nhân tạo bảo vệ mùa màng.

Neoincotinoid được cho là có tác dụng chống lại sâu bệnh, côn trùng nhưng an toàn cho các loài động vật có vú. Tuy nhiên vì tác dụng mạnh lên côn trùng nên nó cũng ảnh hưởng trực tiếp lên ong, làm giảm số lượng của loài thụ phấn. Loại thuốc trừ sâu này được cho là làm giảm tới 40% lượng tinh trùng của ong đực, cũng như giảm tuổi thọ của chúng từ trung bình 22 ngày xuống còn 15 ngày, chính vì vậy mà khả năng ong đực thụ tinh cho ong chúa cũng bị giảm thấp.

Hà Dương – NNVN.

Phụ phẩm bia + phân bò = thuốc trừ sâu sinh học

Trong nỗ lực giảm thiểu hóa chất độc hại trong nông nghiệp, các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha tạo ra loại thuốc trừ sâu sinh học được đánh giá là “trên cả tuyệt vời”.

Cơ hội sản xuất xanh, sạch

Sản lượng rau diếp được ghi nhận đạt năng suất cao hơn khi canh tác theo phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu sinh học mới của các nhà nghiên cứu Tây Ban Nha. Ảnh: Maite Gandariasbeitia et al

Nhà khoa học Gandariasbeitia cũng nhấn mạnh cách mà tuyến trùng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng. “Tuyến trùng gây ra các nút thắt trên rễ -vốn là một loại ký sinh trùng phổ biến có trong đất, chúng xâm nhập vào mô rễ của cây để đẻ trứng và hoạt động này sau đó gây ra các khối u hoặc làm bộ rễ bị sưng lên giống như những nút thắt. Thiệt hại này ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của bộ rễ và có nghĩa là cây trồng không thể hấp thụ chất dinh dưỡng một cách hiệu quả, làm chậm sự phát triển của cây và cuối cùng dẫn đến suy giảm năng suất cho nông dân”, bà Gandariasbeitia nói.

Nhà khoa học Gandariasbeitia cũng nhấn mạnh cách mà tuyến trùng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng. “Tuyến trùng gây ra các nút thắt trên rễ -vốn là một loại ký sinh trùng phổ biến có trong đất, chúng xâm nhập vào mô rễ của cây để đẻ trứng và hoạt động này sau đó gây ra các khối u hoặc làm bộ rễ bị sưng lên giống như những nút thắt. Thiệt hại này ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của bộ rễ và có nghĩa là cây trồng không thể hấp thụ chất dinh dưỡng một cách hiệu quả, làm chậm sự phát triển của cây và cuối cùng dẫn đến suy giảm năng suất cho nông dân”, bà Gandariasbeitia nói.

Nghiên cứu mới mẻ này được cộng đồng khoa học chuyên về sức khỏe đất cũng như giới bảo vệ môi trường đánh giá cao, nhất là trong bối cảnh việc lạm dụng quá nhiều chất khử trùng hóa học trong nông nghiệp có hại cho sức khỏe con người và môi trường và do đó bị cấm sử dụng.

Với nỗ lực giảm thiểu chất thải trong ngành nông nghiệp và giảm lượng hóa chất độc hại trong sản xuất, các nhà nghiên cứu đã sử dụng các sản phẩm phụ hữu cơ từ dây chuyền sản xuất bia kết hợp với phân bò để canh tác, như một phương pháp tiềm năng để khử trùng đất, bảo tồn các vi sinh vật trong đất khỏe mạnh và tăng năng suất cây trồng.

Giải pháp này vừa được công bố trên tạp chí chuyên ngành Frontiers in Sustainable Food Systems. Theo đó, các nhà khoa học thuộc Viện Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Neiker Basque ở Tây Ban Nha đã sử dụng phụ phẩm nông nghiệp từ phụ phẩm hạt cải dầu và bã bia trộn với phân bò tươi như là phương pháp “hai trong một” thay thế hiệu quả.

Maite Gandariasbeitia, tác giả chủ trì nghiên cứu thuốc trừ sâu sinh học mới này giải thích: “Bã hạt cải dầu và bã bia chính là hai phương pháp xử lý hữu cơ tiềm năng đã cho kết quả thực sự khả quan so với các nghiên cứu trước đây. Hàm lượng nitơ cao có trong hai phụ phẩm này đã thúc đẩy hoạt động của các vi sinh vật có lợi trong đất, giúp phân hủy các chất hữu cơ như phân và tiêu diệt tuyến trùng cũng như các ký sinh trùng khác gây hại cho cây trồng”.

Để khử trùng đất và giảm số lượng các tuyến trùng này, bã bia và bã hạt cải dầu được trộn vào đất với phân bò tươi như một phương pháp xử lý hữu cơ tiềm năng. Sau khi xử lý đất vụ đầu tiên, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra sự giảm đáng kể hiện tượng khối u gây thắt nút bộ rễ cây.

Sẽ nghiên cứu sâu hơn

Quan sát trên các ô thửa đối chứng sau một năm trình diễn thí điểm sử dụng loại thuốc trừ sâu sinh học kết hợp giữa bã bia và phân bò, các nhà khoa học cũng xác thực năng suất cây trồng đã tăng khoảng 15%. Ngoài ra, việc xử lý chất hữu cơ sẵn có này đã thúc đẩy quần thể vi sinh vật có ích trong đất, được chứng minh qua chỉ số tơi xốp, tăng độ hô hấp của đất cao hơn đáng kể.

Hiện tượng tuyến trùng xâm nhập gây ra các khối u trên bộ rễ. Ảnh: Maite Gandariasbeitia et al

Nghiên cứu cũng chứng minh rằng, những phụ phẩm nông nghiệp này là giải pháp xử lý hiệu quả đối với tuyến trùng gây thắt nút rễ và tiêu diệt hiệu quả các loại ký sinh trùng khác trong đất, giúp đạt năng suất cây trồng cao hơn cũng như thúc đẩy hệ thống lương thực bền vững để giảm chất thải từ ngành nông nghiệp.

Tuy nhiên, nhà khoa học Gandariasbeitia cho biết sẽ tiếp tục nghiên cứu sâu thêm để khám phá các phương pháp xử lý hữu cơ tiềm năng khác có thể được sử dụng theo cách tương tự.

“Chúng tôi vẫn còn nhiều câu hỏi cần phải trả lời để chúng ta có thể hiểu rõ hơn về những gì xảy ra trong đất trong và sau các phương pháp xử lý sinh học này. Điều này có thể giúp chúng tôi thực sự làm sáng tỏ những đặc điểm mà chúng tôi nên tìm kiếm trong các phương pháp xử lý hữu cơ tiềm năng khác”, nhà khoa học chia sẻ.

 

Kim Long – NNVN, theo Phys.org

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Đòn bẩy phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp sạch

TP.HCM là địa phương đi đầu trong cả nước về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thành phố chủ trương hướng đến một nền nông nghiệp công nghệ cao với quy mô sản xuất lớn, hiện đại. Tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị.

Hiệu quả ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp

Thời gian qua, TP.HCM đã hình thành và từng bước hoạt động có hiệu quả các Khu nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm công nghệ sinh học, Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao. Nhiều quy trình sản xuất công nghệ cao hiệu quả, đã được chuyển giao thành công cho bà con nông dân, doanh nghiệp và tổ chức trên địa bàn thành phố. Từ các mô hình trồng cây trong nhà màng, nhà kính, tưới và bón phân tự động bằng hệ thống tưới nhỏ giọt đến công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào thực vật, sinh học phân tử ứng dụng. Đặc biệt là việc sử dụng chiếu xạ, hơi nóng xử lý trái cây sau thu hoạch.

Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao (thuộc Ban quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao) đã nghiên cứu, xây dựng thành công nhiều quy trình canh tác rau ăn lá, rau ăn trái trồng trên giá thể trong điều kiện nhà màng áp dụng tưới nhỏ giọt.

Ngoài ra, thành phố còn phối hợp cùng các trường đại học, trung tâm nghiên cứu khoa học, các công ty ở các nước có nền nông nghiệp công nghệ cao như Nhật, Hàn Quốc, Israel, Bỉ… trong công tác tập huấn, chuyển giao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham quan học tập kinh nghiệm mô hình nông nghiệp công nghệ cao quốc tế.

Sản phẩm nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ được TP.HCM chú trọng phát triển trong thời gian qua.

 

Hiệu quả từ việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp được thể hiện rõ, qua việc thu nhập của người dân các huyện ngoại thành gia tăng. Năm 2019, giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp ước đạt 550 triệu đồng/ha/năm, gấp 1,5 lần năm 2015. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 là hơn 5,8%/năm. Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình tại các xã năm 2019 đạt 63 triệu đồng/người, tăng gần 59% so với năm 2015.

Trong giai đoạn 2020 – 2025, TP.HCM sẽ tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây, giống con chất lượng và năng suất cao, từng bước hình thành trung tâm giống cây, giống con của khu vực.

Tập trung phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực để tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiệu quả, xây dựng bộ tiêu chí nông thôn mới phù hợp với quá trình đô thị hóa của vùng nông thôn thành phố. Phát triển nông thôn mới lên đô thị nông nghiệp công nghệ cao.

Tiếp tục lấy nông nghiệp công nghệ cao làm đòn bẩy

Theo Sở NN&PTNT TP.HCM, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thành phố cũng có nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ đó, bà con nông dân đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, góp phần giảm sức lao động, tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các đơn vị nghiên cứu nông nghiệp về ứng dụng kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất các giống lan, năm 2015 hợp tác xã (HTX) hoa lan Huyền Thoại (huyện Củ Chi) được thành lập. Từ 5 ha ban đầu, đến nay HTX đã có 21 ha với khoảng 800 nghìn gốc lan Mokara và hơn 20.000 gốc lan Denrobium.

Chương trình xây dựng nông thôn góp phần giúp người dân gắn bó với nông nghiệp TP.HCM có thu nhập cao.

 

Theo bà Đặng Lệ Thị Thanh Huyền, thành viên HTX hoa lan Huyền Thoại, liên kết và ứng dụng công nghệ cao vào trồng các loại lan đã mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên, năng suất tăng gấp nhiều lần so với phương pháp truyền thống. Các xã viên có sự gắn kết, cùng quyết tâm phát triển HTX theo hướng cánh đồng mẫu lớn, áp dụng công nghệ cao gắn với mục tiêu xuất khẩu. Sản phẩm hoa lan được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Nhật Bản, Cam-pu-chia… doanh thu mỗi năm hàng chục tỷ đồng.

Tương tự, nhờ ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất, đến nay HTX Nông nghiệp thương mại – dịch vụ Phú Lộc, huyện Củ Chi canh tác hơn 80 ha với sản lượng bình quân đạt 5.400 tấn rau, củ theo tiêu chuẩn VietGAP các loại một năm. Do có số lượng rau lớn và an toàn vệ sinh thực phẩm, HTX được các siêu thị lớn trên địa bàn thành phố, như Co.opmart, Big C, Lotte, Satra, Safefoods… ký hợp đồng tiêu thụ ổn định. Ngoài ra, HTX còn liên kết sản xuất, tiêu thụ với các HTX, doanh nghiệp, người nông dân, tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Lâm Ðồng để đa dạng hóa sản phẩm cung cấp cho thị trường.

Ông Nguyễn Quốc Toản – Giám đốc HTX Nông nghiệp thương mại – dịch vụ Phú Lộc cho biết, để đáp ứng số lượng lớn rau, củ các loại cho hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố, 43 thành viên HTX thống nhất phải ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo chủ trương của TP.HCM. Ngoài ra, ngành nông nghiệp thành phố cũng hỗ trợ cho HTX bằng nhiều chương trình trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, như hỗ trợ vay vốn, tập huấn cho các xã viên làm chủ các công nghệ mới…

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, Sở tiếp tục đặt ra mục tiêu tiếp tục chuyển đổi mạnh đất trồng lúa, mía hiệu quả thấp sang các loại cây trồng, vật nuôi giá trị, hiệu quả cao, đồng thời, phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho khu vực nông thôn.

Cùng với đó là phát triển sản xuất kết hợp du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Thành phố hiện đang tiếp tục đầu tư các hạng mục tại Trung tâm Công nghệ sinh học, mở rộng Khu Nông nghiệp công nghệ cao và tiếp tục ban hành các chương trình, cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp đô thị.

Ðây sẽ là nguồn lực tiếp tục hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, phát triển đúng định hướng của thành phố là tập trung vào phát triển sản xuất giống cây, giống con chất lượng cao.

Theo Chi cục Phát triển nông thôn TP.HCM, đối với doanh nghiệp khi được công nhận “doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao”, doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như hỗ trợ vay vốn, tiếp cận quỹ đất, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực… Vì vậy, TP.HCM kỳ vọng thời gian tới sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi và chế biến để cải thiện được năng lực cạnh tranh và nâng cao giá trị xuất khẩu.

Theo Doanh nghiệp Việt Nam

Link bài viết: https://doanhnghiepvn.vn/chuyen-doi-so/nong-nghiep-ung-dung-cong-nghe-cao-don-bay-phat-trien-nong-nghiep-so-nong-nghiep-sach/20210103110015290

Thương mại điện tử vào cuộc tiêu thụ nông sản

SGGP Thứ Sáu, 4/6/2021 07:09

Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số đã và đang phối hợp với sàn thương mại điện tử (TMĐT) Sendo.vn, Voso.vn tổ chức tiêu thụ nông sản của nhiều địa phương trên “Gian hàng Việt trực tuyến” như: “Ngày đặc sản Sơn La”, “Ngày hội xứ dừa – quê hương Bến Tre”, chương trình đẩy mạnh tiêu thụ hành tím Sóc Trăng, gần đây là chương trình tiêu thụ vải thiều Thanh Hà – Hải Dương. 

Các chương trình đều mang lại hiệu quả tích cực với hàng ngàn đơn hàng mỗi ngày, độ phủ trên 60 tỉnh, thành phố. 

Các đơn vị đang nỗ lực tuyên truyền tiêu thụ vải thiều Bắc Giang

Theo báo cáo của UBND tỉnh Bắc Giang, trong niên vụ vải thiều năm 2021, toàn tỉnh này có 28.100ha, với sản lượng ước đạt 180.000 tấn, tăng 15.000 tấn so với năm trước. Vụ thu hoạch bắt đầu từ ngày 25-5, nhưng chính vụ từ ngày 10-6 đến 20-7. Còn theo ông Nguyễn Thành Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sơn La, năm nay toàn tỉnh có khoảng 19.026ha xoài, cho sản lượng khoảng 65.223 tấn (thời gian thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 8) và 19.224ha nhãn với sản lượng ước đạt 98.500 tấn (thời gian thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 9).

Do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, để hỗ trợ bà con nông dân tiêu thụ nông sản, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số vừa được Bộ trưởng Bộ Công thương giao làm đầu mối gấp rút triển khai chương trình tiêu thụ vải thiều thông qua TMĐT. Cục Thương mại  điện tử và Kinh tế số đã chủ trì, phối hợp cùng các sàn TMĐT lớn tại Việt Nam như: Sendo, Voso (Viettel Post), Tiki, Shopee, Postmart (Bưu điện Việt Nam – VNPost)… đưa vải thiều Bắc Giang lên “Gian hàng Việt trực tuyến quốc gia” của Bộ Công thương để phân phối tới người tiêu dùng cả nước. 

Hiện nay, Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cùng các sàn TMĐT đang khẩn trương thống nhất triển khai phương án thu mua, vận chuyển logistics… Các sàn TMĐT cho biết đang trong quá trình chuẩn bị hàng hóa, bảo quản sản phẩm, dự kiến 3 – 4 ngày tới sẽ chính thức mở bán đợt vải thiều Bắc Giang rộng rãi đến người tiêu dùng.

Ông Nguyễn Đắc Việt Dũng, Chủ tịch Sendo, thông tin, không chỉ vải thiều mà từ đầu năm 2021, Sendo đã cùng Bộ Công thương triển khai các chương trình thúc đẩy tiêu thụ nông sản của các tỉnh Sơn La, Bến Tre, Hải Dương qua TMĐT trên sàn “Sendo.vn”. Còn theo đại diện sàn TMĐT Voso (Viettel Post), đơn vị này sẽ đưa vải thiều Bắc Giang đạt chuẩn xuất khẩu lên sàn với thời gian giao đến tay người mua chỉ từ 6 – 48 tiếng đồng hồ sau thu hoạch nhờ lợi thế có mạng lưới chuyển phát nhanh rộng khắp 63 tỉnh, thành phố của Viettel Post với hơn 1.800 bưu cục, 6.000 điểm giao dịch, 25.000 điểm bán và 18.000 nhân viên bán hàng trực tiếp.

Bên cạnh đó, ông Vũ Bá Phú, Cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, cho biết, đơn vị này cũng đã thống nhất với các sàn TMĐT Shopee và Postmart hỗ trợ tiêu thụ nhãn, xoài của tỉnh Sơn La tới người tiêu dùng ở Hà Nội và TPHCM thông qua gian hàng trực tuyến. 

Mới đây, Bộ NN-PTNT đã làm việc với Hội LHPN Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn Thanh niên để xây dựng mô hình tiêu thụ nông sản mùa dịch cho nông dân. Chủ trì cuộc họp, Bộ trưởng Bộ NN-PTNT Lê Minh Hoan cho biết, bộ sẽ làm việc với 9 doanh nghiệp bán lẻ để thành lập Hiệp hội Tiếp thị nông sản Việt Nam. Còn ông Nguyễn Anh Tuấn, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội LHTN Việt Nam, cho hay, Trung ương Đoàn đang gấp rút thiết lập các điểm tiêu thụ nông sản an toàn phòng dịch Covid-19 theo mẫu thiết kế của Bộ NN-PTNT. Dự kiến sáng 8-6, 10 điểm bán hàng của Trung ương Đoàn tại Hà Nội và TPHCM sẽ chính thức hoạt động. 

Ông Lương Quốc Đoàn, Chủ tịch Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cũng thông tin, hội đang tổ chức hơn 700 cửa hàng hỗ trợ nông dân tiêu thụ sản phẩm và đồng hành cùng Bộ NN-PTNT triển khai các điểm tiêu thụ nông sản an toàn phòng dịch Covid-19.

VĂN PHÚC

Phá triển sản phẩm chủ lực cấp tỉnh: Giải pháp thúc đẩy kinh tế nông thôn và XDNTM

Phát triển sản phẩm chủ lực cấp tỉnh được coi là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, mà trọng tâm là việc thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Đầu tư phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo chuỗi giá trị, tăng thu nhập cho người dân, khai thác có hiệu quả lợi thế về tự nhiên, xã hội và truyền thống, đồng thời, tạo tiền đề để các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của các tỉnh khẳng định chỗ đứng trên thị trường.

Kinh tế nông thôn nêu cách làm của 2 tỉnh Bắc Giang và Tuyên Quang cùng ý kiến các chuyên gia để các địa phương khác tham khảo.

Huyện Lục Ngạn thu hoạch vải thiều chính vụ

Thu hoạch vải thiều tại hộ nông dân Lê Văn Kiên, thôn Đồng Giao, xã Quý Sơn, huyện Lục Ngạn.

Chuyện sản phẩm chủ lực ở Bắc Giang

Bắc Giang được xem là một trong những địa phương tập trung phát triển ngành nông nghiệp theo hai trục là nhóm sản phẩm chủ lực của tỉnh và sản phẩm đặc sản địa phương. Nhiều sản phẩm, dịch vụ, đặc biệt là sản phẩm nông nghiệp của Bắc Giang hiện được đánh giá là đa dạng về chủng loại và đều có khả năng phát triển.

Những cuộc trò chuyện ở Bắc Giang đưa người ta đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, không chỉ bởi sự hồ hởi của những hộ nông dân tham gia vào chuỗi phát triển sản phẩm chủ lực mà cả sự tâm huyết và lòng nhiệt thành của nhà quản lý các cấp, đặc biệt là của ngành khoa học và công nghệ.

Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, người ta đã có thể cảm nhận được sự nhiệt tình xen lẫn tự hào của chị Dương Thị Luyện, Giám đốc HTX măng lục trúc Tân Yên. Cũng như bất cứ doanh nghiệp có mạng lưới tiêu thụ rộng khắp, HTX lúc nào cũng bận rộn, tấp nập người ra vào, đến 12 giờ trưa thì ngay cả giám đốc vẫn còn chưa được ăn, dù cơm nước đã sẵn sàng. Chúng tôi cũng phải ngồi chờ chị gần 20 phút vì chị còn phải ngược xuôi chạy đôn chạy đáo.

Có lẽ, lúc nào người ta cũng nhận thấy sự tự hào về sản phẩm mình làm ra của một người sống chết với công việc như chị. “Nhiều người nói với tôi chẳng thấy chị giám đốc nào như chị cả, chân đất, tay vẫn còn đào măng”, chị Luyện không ngại ngần kể về sự gắn bó máu thịt của mình với củ măng, dù đã “lên chức”. Với chị, dù được nhập từ Đài Loan (Trung Quốc) thì cây trúc đã là một phần tài sản của đồng đất ở đây.

Do đó, cách quảng bá “củ măng ngọt mát như củ đậu, lại có vị thơm phảng phất như ngô nếp” của chị cũng thật khác biệt với nhiều cách làm khác. “Đi du lịch ở Quảng Ninh cùng mọi người, tôi mang theo chục cân măng, đổi lấy một con tôm hùm rồi nhờ họ nấu cùng. Khi ăn, họ reo lên “ôi sao ngon thế nhỉ” và tìm về đến tận đây để ký hợp đồng”. Dù chị chưa kể hết các “mánh” quảng bá sản phẩm nhưng người ta có thể mường tượng ra cách tiếp cận thị trường hiệu quả của chị ở một xã nhỏ bé có thể cung cấp cả 2 tấn măng cho thị trường mỗi ngày.

Những tưởng chỉ có người sống chết với sản phẩm mình làm ra mới có thể “sôi sục” trong công việc như vậy, nhưng ở Bắc Giang thì dường như ai cũng sẵn có điều đó. Trên đường dẫn chúng tôi tới các cơ sở sản xuất các sản phẩm chủ lực của tỉnh, anh Ngô Anh Hoàng, Phó trưởng phòng Quản lý Khoa học và Công nghệ (KH&CN) cơ sở và sở hữu trí tuệ (Sở KH&CN tỉnh Bắc Giang) liên tục gọi và nhận một số cuộc điện thoại mà nội dung cũng chỉ xoay quanh các sản phẩm chủ lực. “Sắp tới có cuộc hội thảo toàn quốc ở Lâm Đồng, chúng tôi muốn nhân cơ hội này để quảng bá thêm với mọi người sản vật của Bắc Giang”.

Bắc Giang có nhiều sản phẩm chủ lực, lần này, anh gửi mì Chũ của HTX Mỳ gạo Chũ Xuân Trường, nơi mới đầu tư gần 100 triệu đồng để thiết kế lại logo, tem nhãn, bao bì đóng gói. Không ai giao việc này cho anh cả, nhưng anh cảm thấy trách nhiệm của một người sống ở vùng đất có nhiều sản phẩm đặc trưng mà chưa được người dân ở nhiều địa phương trên cả nước biết đến. “Việc gửi vài thùng mì đi giới thiệu ở các hội nghị có đại diện ở các địa phương khác nhau cũng là kênh quảng bá tốt”, anh chia sẻ.

Ngược trở lại quãng thời gian vài ba năm trước đây, khi mọi việc, mọi sản phẩm còn “chưa ra ngô ra khoai” như bây giờ, chính sự nhiệt tình với công việc và sẵn sàng kết nối như vậy đã đưa những con người ở đây đến việc giải bài toán sản phẩm chủ lực.

“Công việc thì giao cho Sở Công Thương tỉnh nhưng thật ra nhiều nơi cùng xúm vào làm. Ban đầu họ hỏi tôi xem bên Sở KH&CN có tiêu chí nào để lựa chọn và đánh giá không, thế rồi Sở KH&CN, Sở NN&PTNT… cùng tham gia tư vấn. Trên cơ sở đó, Bắc Giang có thể phân loại dựa trên một số tiêu chí nhất định như quy mô, sản lượng, chỉ tiêu chất lượng, thị trường…”, ông Ngô Chí Vinh, Phó giám đốc Sở KH&CN Bắc Giang, cho biết.

Theo cách đó, câu chuyện sản phẩm chủ lực của Bắc Giang không đơn thuần là của một vài HTX hay của một ngành, một lĩnh vực mà là câu chuyện chung với đích đến là tạo điều kiện cho sản lượng mùa vụ cao hơn, sản phẩm có sức cạnh tranh cao hơn và người dân có thu nhập bền vững hơn. Không phải ngẫu nhiên mà suốt mấy năm vừa qua, gần như cả hệ thống chính trị của Bắc Giang nhập cuộc chỉ để giải quyết vấn đề chỉ dẫn địa lý ở Nhật của quả vải thiều Lục Ngạn. Chủ đề này chi phối mọi mối quan tâm từ người dân cho đến các nhà quản lý, khiến cho ở nơi đây miếng trầu không còn là đầu câu chuyện nữa mà là “quả vải là đầu câu chuyện”. Sức ép của việc gìn giữ chất lượng sản phẩm chủ lực và cách để sản phẩm chủ lực ấy có thể đường hoàng tung tẩy ở thị trường quốc tế còn lớn hơn cả việc tạo dựng ra nó.

Hội nghị triển khai và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác 3 bên

Kiểm tra công tác phòng dịch của hộ chăn nuôi Nguyễn Tiến Mạnh  (HTX giống gia cầm Mạnh Ngân) – Thương hiệu gà đồi Yên Thế – Một sản phẩm chủ lực của Bắc Giang. Ảnh: Hoàng Hiếu.

Đơn cử, sau khi Nhật Bản có quyết định cho sản phẩm vải thiều nhập khẩu vào thị trường này, Bắc Giang đã tập trung chỉ đạo sản xuất liên kết chuỗi gắn với thị trường tiêu thụ đối với quả vải. Riêng đối với sản phẩm gà đồi đã được nuôi theo quy trình an toàn tập trung, doanh thu mỗi năm hơn 1.500 tỷ đồng…

Trong câu chuyện sản phẩm chủ lực quy tụ các ngành cùng tham gia đó, không phải bao giờ cũng toàn chuyện thành công. Chỉ vỏn vẹn vài chữ “công nghệ bảo quản” và “chế biến sâu” để sản phẩm không còn là chuyện xuất tươi, không là nỗi lo “chạy cho kịp mùa vụ” nhưng sao khó vô cùng. Ông Nguyễn Thanh Bình, Giám đốc Sở KH&CN Bắc Giang thừa nhận, “dù Sở KH&CN muốn có được những cách thức, công nghệ tốt để hỗ trợ người nông dân có sản phẩm đầu ra tốt hơn, thu nhập cao hơn, song thực tế thì chưa được như vậy. Dĩ nhiên, chúng tôi sẽ không bỏ cuộc”.

Tạo đà phát triển kinh tế và  XDNTM

Theo đồng chí Lê Ánh Dương, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang, xác định tầm quan trọng của phát triển sản xuất nông nghiệp, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo triển khai đồng bộ, kịp thời các giải pháp khắc phục khó khăn, hỗ trợ cho sản xuất, nên nông nghiệp của tỉnh đạt kết quả toàn diện. Sản xuất nông nghiệp thật sự có vai trò là trụ đỡ vững chắc cho phát triển kinh tế của tỉnh. Hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp với quy mô ngày càng lớn, có sự hợp tác liên kết theo chuỗi giá trị kết hợp với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, quy trình sản xuất tiên tiến như VietGAP, GlobalGAP, ứng dụng công nghệ cao… được nhân rộng, mang lại hiệu quả, giá trị, thương hiệu các sản phẩm nông sản của tỉnh. Năm 2020, giá trị sản xuất toàn ngành nông nghiệp tỉnh Bắc Giang đạt 36.500 tỷ đồng, vượt 10% kế hoạch. Cơ cấu ngành nông nghiệp  chuyển dịch theo hướng phát huy lợi thế của địa phương và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trường.

Nổi bật là một số loại cây trồng chủ lực phát triển mạnh, như: lúa chất lượng cao, rau chế biến an toàn, vải thiều, cam, bưởi… Đến nay, toàn tỉnh đã hình thành 163 mô hình cánh đồng mẫu trồng lúa, rau với diện tích 5.159ha. Có 66 cơ sở được cấp Giấy chứng nhận VietGAP, GlobalGAP với diện tích 2.027ha. Giá trị sản xuất 1 ha đất nông nghiệp cao hơn bình quân chung của cả nước, đạt 120 triệu đồng, tăng 14,3%, vượt 9,1% kế hoạch. Sản lượng lương thực có hạt đạt trên 630 nghìn tấn. Tỷ trọng ngành trồng trọt giảm còn 53,2%. Về chăn nuôi, việc kiểm soát, phòng chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được thực hiện một cách chủ động, tích cực, hiệu quả. Các mô hình sản xuất hiện đại theo chuỗi khép kín, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Tỷ lệ chăn nuôi trang trại, gia trại và an toàn sinh học theo hướng VietGAP đối với đàn lợn đạt 43% và đối đàn gà đạt 46%. Đàn vật nuôi phát triển ổn định; đã phục hồi đàn lợn về mốc 1 triệu con. Các vật nuôi khác như: trâu, bò, ngựa, dê, thỏ, ong mật… cũng phát triển khá, góp phần đa dạng hóa các sản phẩm, nâng cao giá trị sản xuất. Tỷ trọng ngành chăn nuôi tăng lên 44,8%.

Cùng với đó, sản xuất thủy sản theo hướng thâm canh cũng được mở rộng. Toàn tỉnh Bắc Giang hiện có 52 vùng nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP, tập trung chủ yếu tại 6 huyện, thành phố gồm: Việt Yên, Lạng Giang, Tân Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa và thành phố Bắc Giang với diện tích trên 750ha; trong đó có 34 vùng đã được cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn VietGAP với tổng diện tích là 245,9ha. Sản lượng thủy sản đạt 57.500 tấn, tăng 4,2%.

Phát triển sản xuất nông nghiệp đã thật sự tạo động lực thúc đẩy tiến trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới (XDNTM) của tỉnh Bắc Giang. Năm 2020, toàn tỉnh đã có thêm 24 xã đạt chuẩn và huyện Tân Yên đạt chuẩn huyện NTM. Đã có 124 xã đạt chuẩn, chiếm 67,4% tổng số xã và 3 huyện trong tỉnh đạt chuẩn NTM (Việt Yên, Lạng Giang, Tân Yên). Số tiêu chí bình quân đạt 16,2 tiêu chí /xã; trong đó nhiều tiêu chí đạt cao và vượt mốc chuẩn như: thu nhập bình quân đầu người, cứng hóa giao thông nông thôn, tổ chức liên kết sản xuất. 08 xã đạt chuẩn NTM nâng cao – kiểu mẫu; 73 thôn được công nhận NTM kiểu mẫu.

Bắc Giang tiếp tục là tỉnh đứng top đầu các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc về XDNTM.

Năm 2021, Bắc Giang phấn đấu thực hiện 18 chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội đều ở mức cao hơn năm trước. Trong đó có các chỉ tiêu về phát triển sản xuất nông nghiệp và XDNTM, đó là giá trị sản xuất/ha đất nông nghiệp đạt 125 triệu đồng; tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM đạt 75% và có thêm 1 huyện đạt chuẩn huyện NTM, đưa tổng số lên 4 huyện trong tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

Hội nghị triển khai và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác 3 bên

Thu hoạch trứng tại hộ chăn nuôi Nguyễn Tiến Mạnh (HTX giống gia cầm Mạnh Ngân) – Thương hiệu gà đồi Yên Thế. Ảnh: Hoàng Hiếu

Ông Dương Thanh Tùng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bắc Giang, cho biết: Để đạt các chỉ tiêu đó, Bắc Giang sẽ đẩy mạnh hơn nữa phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất chuyên canh, tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Thực hiện hiệu quả các chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; phát triển chăn nuôi trang trại quy mô lớn theo hình thức công nghiệp, bán công nghiệp, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực XDNTM; phấn đấu toàn tỉnh có 138 xã đạt chuẩn và có thêm Yên Dũng đạt chuẩn huyện NTM. Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chủ lực và thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP), có thêm tối thiểu 20 sản phẩm đạt OCOP cấp tỉnh; từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản  theo tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

Giải pháp nhằm lan tỏa sản phẩm chủ lực 

Cũng như Bắc Giang, tỉnh Tuyên Quang xác định phát triển nông nghiệp hàng hóa là động lực để tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia XDNTM, nâng cao đời sống nhân dân, tạo sự ổn định và phát triển bền vững. Quan tâm đổi mới và nâng cao hiệu quả các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá; tập trung vào cây trồng, vật nuôi có lợi thế của địa phương với quy mô lớn, sản phẩm có chất lượng, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường là những nhiệm vụ được triển khai đồng bộ trong thời gian qua.

Theo đó, Sở Nông nghiệp và PTNT đã đề xuất Sở Kế hoạch và Đầu tư thẩm định 5 loại sản phẩm nông nghiệp chủ lực để trình UBND tỉnh quyết định, gồm: sản phẩm cây trồng có cây chè, cây mía; nhóm sản phẩm rau, củ, quả; sản phẩm vật nuôi lựa chọn con trâu; sản phẩm lâm nghiệp lựa chọn gỗ nguyên liệu.

Từ thực tế một số địa phương thấy, việc lựa chọn các loại sản phẩm chủ lực cần phải có sự chắt lọc kỹ lưỡng, phải thực sự mang trong nó hình ảnh và là biểu tượng của địa phương; không nên bố trí một cách dàn trải với quá nhiều chủng loại sản phẩm. Xây dựng các sản phẩm chủ lực cần tính đến sự hài hòa giữa yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội;  đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, định hướng phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Xác định sản phẩm chủ lực phải mang tính cạnh tranh cao. Đây là sản phẩm đặc thù của địa phương,  do đó, cần có sự thống nhất cao từ tư tưởng đến hành động của các cấp, các ngành, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân để tập trung sản xuất, chế biến, nâng cao lợi thế cạnh tranh, từ đó nâng cao thu nhập cho người sản xuất. Việc lựa chọn và xác định các sản phẩm chủ lực cho ngành nông nghiệp được coi là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong chiến lược phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn, mà trọng tâm là việc thực hiện hiệu quả Chương trình XDNTM hiện nay.

Ưu tiên nguồn lực để tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nhằm xây dựng nên những thương hiệu sản phẩm chủ lực mạnh của tỉnh. Đây cũng là cơ sở để các sở, ngành liên quan của tỉnh tham mưu xây dựng cơ sở dữ liệu về sản phẩm chủ lực; kết nối giữa sản xuất với thị trường tiêu thụ, xây dựng triển khai hiệu quả chương trình quảng bá tiếp thị sản phẩm chủ lực. Đề xuất các chính sách xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phù hợp với khả năng của tỉnh để tạo điều kiện hỗ trợ, tạo môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nhất cho sự ổn định và phát triển của doanh nghiệp, trong đó ưu tiên các chính sách thúc đẩy tập trung đất đai, tạo quỹ đất để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phù hợp với thẩm quyền và các quy định của pháp luật; chính sách tín dụng tại địa phương, hỗ trợ lãi suất để doanh nghiệp có điều kiện đổi mới về khoa học công nghệ, tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 để tạo sự vượt trội về năng suất lao động…

Thay đổi tư duy, tổ chức lại sản xuất là việc làm quan trọng. Việc xác định các sản phẩm nông nghiệp chủ lực để tập trung đầu tư phát triển sản xuất và tiêu thụ là hướng đi đúng, là việc làm cần thiết, căn cơ góp phần quan trọng phát triển nông nghiệp bền vững.

Bởi tựu chung của những khó khăn, vướng mắc cần giải quyết trong việc phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đó là liên kết sản xuất chưa thật sự bền vững, nhiều nông dân chưa quen với việc sản xuất theo hợp đồng, chưa tuân thủ quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn sản xuất hàng hóa, chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà chưa thấy được lợi ích lâu dài về sản xuất, tiêu thụ ổn định.

Bên cạnh đó là thực trạng sản phẩm hàng hóa thiếu “đầu ra” bền vững, giá trị hàng hóa không ổn định. Chính vì vậy, việc thay đổi tư duy của người nông dân và tổ chức lại sản xuất, nhất là  đẩy mạnh liên kết vùng chuyên canh và tập trung sản xuất, liên kết chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, nâng chất lượng nông sản cho nông dân phải đi trước, phải làm đồng bộ để các sản phẩm chủ lực của tỉnh phát triển mạnh và có sức cạnh tranh trên thị trường.

Ý kiến chuyên gia

Mặc dù đạt những kết quả tích cực nhưng các chuyên gia vẫn cho rằng, kinh tế nông thôn ở Bắc Giang, Tuyên Quang nói riêng và trên cả nước nói chung phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh. Còn một số tồn tại cần sớm tháo gỡ. Đó là quy mô sản xuất vẫn còn nhỏ, kinh tế hộ vẫn là chủ yếu, năng suất lao động chưa cao, giá trị canh tác trên đơn vị canh tác nhìn chung còn thấp, sản phẩm chưa được chế biến sâu, bao bì, mẫu mã sản phẩm còn đơn giản, chưa tạo được thương hiệu, xuất tươi còn chiếm tỷ trọng lớn, số doanh nghiệp, HTX hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp còn ít và yếu.

Trên cơ sở đó, các chuyên gia cho rằng, các địa phương cần làm tốt công tác tuyên truyền để thay đổi nhận thức cho cả người dân và các cấp, ngành về ý nghĩa của việc phát triển sản phẩm chủ lực cấp tỉnh. Thứ hai là, triển khai có hiệu quả chương trình khoa học công nghệ phục vụ phát triển kinh tế nông thôn, tái cơ cấu nông nghiệp gắn với tổ chức lại các hình thức tổ chức sản xuất; gắn với quảng bá du lịch. Thứ ba, tiếp tục cải cách thủ tục  hành chính để hỗ trợ người dân nhanh nhất, hiệu quả nhất. Thứ tư, xây dựng các đề tài, dự án điểm, làm mẫu. Thứ năm, gắn kết tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, du lịch với quảng bá sản phẩm cả ở trong và ngoài nước. Thứ sáu, rà soát để loại bỏ các quy định, quy tắc và hệ thống đánh giá không phù hợp. Thứ bảy, chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ của các doanh nghiệp, HTX về mọi mặt. Thứ tám là, thực hiện công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quỹ đất chưa sử dụng, tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận thuận lợi nhất; thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh; đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư công, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Có thể thấy, sản phẩm chủ lực cấp tỉnh đều là những sản phẩm có số lượng lớn, có thế mạnh và sức cạnh tranh cao, có khả năng mở rộng sản xuất, phát triển ứng dụng công nghệ cao, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.

Thanh Tâm – KTNT.

Lên núi làm rau, dưa lưới công nghệ cao

Bỏ công việc kỹ sư ổn định tại Hà Nội, anh Nguyễn Việt Lâm về quê Tuyên Quang gây dựng cơ sở trồng dưa lưới công nghệ cao theo hướng hữu cơ.

Toàn bộ diện tích trồng dưa lưới được anh Lâm trồng hoàn toàn trong nhà màng, bằng các công nghệ hiện đại. Ảnh: Bảo Thắng.

Đổi nghề

Giữa cái nóng chừng 50 độ C trong khu nhà màng, mồ hôi rịn ướt áo, anh Nguyễn Việt Lâm, giám đốc Công ty Sơn Dương Green Farm vẫn cẩn thận lật từng vòi tưới dưới gốc dưa leo để kiểm tra van tiết lưu có bị tắc không. Lâm khoe, đây là hệ thống tưới nhỏ giọt tự động ứng dụng từ công nghệ thủy canh Israel. Nước cùng với phân được hòa lẫn, sẽ tưới thành từng giọt tới mỗi gốc cây.

Nhờ hệ thống tưới tự động chính xác này, dưa lưới phát triển đồng đều, dù là trái vụ hay ngoài trời mưa phùn, giá rét. So với dưa trồng theo cách truyền thống ngoài đồng, dưa trong nhà màng công nghệ cao tốn ít công chăm sóc hơn. Quả to, đẹp và chất lượng hơn. Giá cũng được bán khá cao, từ khoảng gấp rưỡi đến gấp đôi tùy theo mùa vụ.

Bên cạnh hệ thống tưới trị giá ngót nghét 200 triệu đồng, chủ vườn tại thôn Khuôn Phầy, xã Kháng Nhật, huyện Sơn Dương, Tuyên Quang còn có hệ thống bơm cao áp đủ cung cấp nước tưới cho diện tích nhà vườn hơn 5.000 m2. “Nếu có điều kiện đầu tư thêm chút nữa như lắp camera, và vài cảm biến không khí, có khi tôi chỉ cần ngồi trên nhà điều hành, bấm nút trên điện thoại là xong”, Lâm cười nói.

Ngón tay khẳng khiu nhiều vết chai, Lâm lướt điện thoại, mê mải giới thiệu giống dưa lưới chủ lực công ty anh đang trồng. Quê Tuyên Quang, theo học Đại học Công nghiệp, chàng sinh viên sinh năm 1992 có mấy năm lăn lộn đất Thủ đô. Khi thì làm kỹ sư hóa dầu, lúc lại đứng máy cơ khí, nhưng rồi giấc mơ có một trang trại thuở nhỏ cứ đeo bám lấy Lâm.

Anh Lâm thăm dưa lưới trong khu nhà màng. Ảnh: MP.

Năm 2017, khi nghỉ việc công ty cũ và có trong tay ít vốn dắt lưng, Lâm tạm biệt Hà Nội, về Tuyên Quang lập nghiệp. Với suy nghĩ ban đầu là tập trung vào cây nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế cao, Lâm chọn vùng chân núi tại thôn Khuôn Phầy khởi nghiệp vì cho rằng nơi đây có nguồn nước sạch từ suối và chưa có khu nông nghiệp công nghệ cao nào xung quanh. 

Kiến thức từ những chuyến công tác khi còn là kỹ sư cơ điện cho Lâm thấy, địa phương muốn phát huy hết thế mạnh nông nghiệp sẵn có thì phải tìm ra những cây trồng chủ lực phù hợp thổ nhưỡng. Qua tài liệu trên Internet và tham khảo kinh nghiệm những nước nông nghiệp tiên tiến như Mỹ, Israel, anh gút lại danh sách lựa chọn ba cây trồng chủ lực phù hợp với thổ nhưỡng ở các khu vực đã chọn, là rau ăn lá ngắn ngày, chè và dưa lưới. 

“Khó nhất là thuyết phục được gia đình, bởi ngày ấy tôi còn trẻ. Bố mẹ thấy con quen ở Hà Nội, bỗng dưng nằng nặc đòi lên núi, cũng đặt nhiều câu hỏi”, Lâm nhớ lại ngày khởi nghiệp cách đây 4 năm. Nhưng rồi ý chí làm giàu trên mảnh đất quê hương đã chiến thắng tất cả. Thời gian đầu, anh chọn rau ăn lá làm chủ lực, xen kẽ trồng dưa lưới để khảo nghiệm. Chưa thuê được lao động địa phương, Lâm dựa hoàn toàn vào sức của bản thân và gia đình.

Cả khu đất rộng hơn 20 ha chủ yếu là đất vườn đồi, cách xa khu dân cư, một mình Lâm ở lán bạt gần như cả ngày. Anh tự tay giải phóng mặt bằng, thiết kế nhà kính, xử lý nước, đất, hệ thống máng trồng. Bạn bè ngày ấy thỉnh thoảng lên chơi không nhận ra Lâm bởi anh trông giống “thổ phỉ”, đen nhẻm. Người duy nhất đồng hành cùng Lâm ngày ấy là mẹ, người vốn phản đối ý định lên núi lập nghiệp của anh. Mỗi sáng, mẹ anh lại vượt hàng chục kilomet lên tận vườn, thăm nom cơ ngơi và dọn dẹp.

Đến năm 2018, trang trại nông nghiệp 4.0 của Lâm cơ bản thành hình. Hệ thống quạt mát, phun sương tưới ẩm và ống dẫn nước được lập trình tự động khắp khu nhà màng. Cùng lúc, anh có niềm vui riêng bên tổ ấm mới.

Ngoài dưa lưới, anh Lâm còn trồng cả ớt chuông, dưa chuột và một số loại rau ngắn ngày khác.

Ảnh: Bảo Thắng.

Đứng lên nhờ dưa lưới sạch

Cuối 2018, đầu 2019, sau chừng hai năm lăn lộn cùng kinh tế trang trại, Lâm nhận ra một số vấn đề, chủ yếu là chi phí vận chuyển. Do rau vận chuyển đi những tỉnh xa như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang nên tiền công lớn. Thành phẩm bị đội giá lên khá nhiều, khiến sức cạnh tranh suy giảm. “Ngày ấy, tôi mất ngủ nhiều đêm. Rút lui thì không được nữa rồi, vì công sức, tiền của đã đổ bao nhiêu vào đây”, Lâm nhớ lại. 

Trong cái rủi có cái may. Dù sản xuất rau chững lại, Lâm phát hiện ra nguồn lợi lớn từ những luống dưa lưới thử nghiệm. Tuy nhận một số phản hồi trái chiều, như dưa chưa ngọt và giòn như một số giống nhiều tiền, chàng kỹ sư cơ điện vẫn được ủng hộ nhiều hơn. Quan trọng nhất, theo anh, là người tiêu dùng sẵn sàng chi nhiều hơn để có một sản phẩm sạch từ nguyên liệu đầu vào cho tới quy trình chăm sóc.

Để phù hợp với thị hiếu số đông, Lâm tập trung chọn giống dưa cho quả mềm, có vị ngọt mát, và mẫu mã đẹp. Anh cũng không dùng đất, mà gieo toàn bộ hạt trên giá thể xơ dừa. Lâm bảo, so với rau ăn lá, vận chuyển dưa khỏe hơn nhiều. Cùng một chuyến xe, lượng dưa chở xuống xuôi thường gấp ba đến năm lần. Bù lại, ngày nào Lâm cũng phải “xông hơi” một vài tiếng trong nhà màng, bởi dưa là giống ưa nắng, thích hợp sinh trưởng ở nhiệt độ cao.

Hai năm chuyển đổi hướng đầu tư, Lâm một lần nữa thu trái ngọt. Công ty Sơn Dương Green Farm do anh làm giám đốc có doanh thu hàng năm ngót nghét tiền tỷ, đồng thời tạo công ăn việc làm cho 7 người, chủ yếu là nữ ở địa phương.

Mỗi cây dưa trong trang trại Green Farm chỉ cho một quả. Toàn bộ quá trình chăm sóc từ trong giá thể xơ dừa đều tuân theo quy trình hữu cơ. Ảnh: LB.

Thành công hiện tại chưa khiến Lâm hài lòng. Dù có hệ thống nhà màng hiện đại, đủ sức chắn mưa, nắng, ngăn côn trùng xâm nhập, chủ động được chế độ dinh dưỡng và không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, anh vẫn muốn đầu tư thêm dàn mái che tự động phía ngoài, thay vì phải dùng tay kéo lên xuống khi trời nhiều mây. 

Ngoài ra, Lâm dự định hiện đại hóa hơn nữa tủ điều khiển trung tâm, vốn mới dừng ở việc đo nhiệt độ, độ ẩm không khí. Theo anh, nếu có thể đo được độ dẫn điện, độ pH của dung dịch phân bón, đo cường độ bức xạ mặt trời, cường độ ánh sáng, và cài đặt được giới hạn áp suất không khí, dưa công ty anh có thể nghĩ đến việc xuất khẩu.

Hiện Công ty Sơn Dương Green Farm của Lâm đã liên kết với ba, bốn đơn vị trồng dưa lưới khác tại khu vực phía Bắc. Dù vậy, việc mở rộng quy mô sản xuất còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là vốn. Theo Lâm, hệ thống nhà màng được đầu tư hàng trăm triệu của anh không được tính là tài sản cố định, và không thể sử dụng để vay thế chấp.

“Nếu có một cơ chế nào đó, chẳng hạn cho vay dựa trên giám định năng lực sản xuất, tôi sẽ mạnh dạn đầu tư thêm cho khu vườn nhà mình”, Lâm nhấn mạnh. 

Bảo Thắng – Đức Minh – Đào Thanh

Phát triển nuôi tôm công nghệ cao

SGGP Thứ Năm, 27/5/2021 06:39

Nuôi tôm thẻ theo kiểu truyền thống hiệu quả không cao, nhiều rủi ro, nên nhiều hộ nông dân ở tỉnh Bến Tre đã chuyển đổi, phát triển nuôi tôm thẻ chân trắng với hình thức thâm canh mật độ cao (còn gọi là nuôi tôm ứng dụng công nghệ cao – CNC) nhiều giai đoạn, lợi nhuận tăng gấp 4 lần so với trước. 

Ông Phan Văn Quẹo phấn khởi sau 2 vụ nuôi tôm công nghệ cao đạt kết quả tốt

Qua đó, nhằm hiện thực hóa mục tiêu đạt 4.000ha nuôi tôm ứng dụng CNC vào năm 2025 tại các huyện: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú.

Đổi mới tư duy sản xuất

Những năm trước, mô hình nuôi tôm CNC đã bắt đầu nhen nhóm phát triển tại Bến Tre. Từ năm 2016, mô hình này đã từng bước phát triển trên địa bàn 3 huyện ven biển của tỉnh là: Ba Tri, Bình Đại, Thạnh Phú với diện tích ban đầu 250ha. Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi tôm ứng dụng CNC mang lại đã nâng diện tích thả nuôi lên 1.680ha năm 2020. Theo đánh giá thì năng suất bình quân đạt 60-70 tấn/ha diện tích mặt nước, người nuôi thu về 700-800 triệu đồng/vụ. Thực tế tại mô hình nuôi tôm ứng dụng CNC của nông dân Đặng Văn Bảy (huyện Thạnh Phú), với sự hỗ trợ và chuyển giao công nghệ từ Công ty cổ phần CP Việt Nam cho thấy, kích cỡ tôm nuôi đạt hơn 15 con/kg, lợi nhuận tăng thêm khoảng 50 triệu đồng/ao nuôi. Với sự mạnh dạn thay đổi, ông Bảy giờ đã trở thành nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi tiêu biểu toàn quốc với thu nhập từ nuôi tôm khoảng 30 tỷ đồng/năm. 

Lan tỏa cách làm hay, sau nhiều năm nuôi tôm theo kiểu truyền thống, kinh tế cũng không đạt hiệu quả cao như mong muốn, ông Phan Văn Quẹo (ngụ xã Thạnh Phước, huyện Bình Đại) đã chuyển đổi 5ha diện tích nuôi tôm ao đất sang nuôi ứng dụng CNC. Với kinh nghiệm trên chục năm trong nghề, ông Quẹo rút ra bài toán kinh tế khi nuôi trên ao đất là diện tích mặt nước nuôi lớn, rủi ro cao vì tôm thường bị dịch bệnh, khó xử lý. Với diện tích 5ha chia làm 7 ao nuôi nhưng khi thu hoạch hiệu quả chỉ đạt khoảng 3 ao, đáng nói là chưa có ai nuôi kiểu truyền thống mà kích cỡ con tôm đạt size 20-22 con/kg, trong khi nuôi ứng dụng CNC thì hoàn toàn có thể và giá trị kinh tế khá cao.

Nhận thấy nuôi tôm theo hướng CNC đạt hiệu quả, ông Quẹo chuyển đổi gần 3ha để ứng dụng công nghệ này với sự liên kết, hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp con giống từ một đơn vị khác. Theo đó, qua 2 vụ nuôi, năng suất tôm tăng 4-5 lần trên cùng diện tích mặt nước; dịch bệnh, tôm chết chiếm tỷ lệ thấp. Hạn chế của mô hình này là chi phí đầu tư ban đầu khá cao. Nuôi theo hình thức CNC thì phải đầu tư hệ thống ao nuôi gồm: ao trữ nước; ao ươm; ao nuôi. 

“Ao nuôi chiếm 20-30% tổng diện tích. Con giống sẽ được ươm 15-20 ngày, sau đó mới sang qua ao nuôi, mật độ khoảng 100-300 con/m2 ao nuôi, để kiểm soát tốt dịch bệnh, hạn chế rủi ro, kiểm soát yếu tố môi trường nước, tỷ lệ nuôi đạt hơn so với truyền thống”, ông Võ Trịnh Quốc Toàn, Trưởng phòng NN-PTNT huyện Bình Đại, chia sẻ. Theo ông Toàn, hiện diện tích nuôi tôm CNC trên địa bàn huyện khoảng 800 ha. Giai đoạn 2020-2025, huyện có kế hoạch phát triển khoảng 2.000 ha nuôi tôm biển CNC, chiếm 50% diện tích của tỉnh. 

Tăng diện tích 4.000ha vào năm 2025

Theo Bộ NN-PTNT, cả nước có hơn 200.000ha nuôi tôm CNC, trong đó tập trung nhiều nhất là tại 2 tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng với tổng diện tích khoảng 186.000ha. Sản lượng tôm Việt Nam vẫn tăng đều mỗi năm 5-10%, có năm tăng 12%. Riêng tỉnh Bến Tre mức tăng trưởng bình quân hàng năm 8-10% là mức tăng ổn định, chậm nhưng có phương pháp. Sự tăng trưởng đều này nhờ vào sự thay đổi công nghệ trong nuôi tôm. Hiên nay, Bến Tre có hơn 50.000ha diện tích tiềm năng nuôi thủy sản, đến năm 2020 đã khai thác được 45.747ha, tốc độ tăng trưởng bình quân 1,3% giai đoạn 2016-2020. 

Ông Nguyễn Văn Buội, Phó Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Bến Tre cho biết, đặt mục tiêu phát triển 4.000ha diện tích nuôi tôm ứng CNC tại các vùng sản xuất trọng điểm trên địa bàn tỉnh vào năm 2025, tại huyện Ba Tri 500ha; Bình Đại 2.000ha; Thạnh Phú 1.500ha, với tổng kinh phí thực hiện trên 6.000 tỷ đồng. Trong đó vốn ngân sách nhà nước hơn 1.300 tỷ đồng (trung ương 1.140 tỷ đồng, địa phương 185 tỷ đồng); vốn khác là hơn 4.800 tỷ đồng. Trong đó, mục tiêu sản lượng khoảng 144.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 41,42%; giá trị sản xuất ngành tôm đạt 1 tỷ USD vào năm 2025. Ông Buội nhận định, ưu điểm của mô hình này là đầu tư kín, cách ly được môi trường dịch bệnh giai đoạn đầu, mật độ cao, quản lý tốt thức ăn và môi trường, nâng cao tỷ lệ sống, nuôi tôm cỡ lớn, tăng năng suất, sản lượng trên một đơn vị diện tích và đặc biệt là tiện lợi cho việc xử lý chất thải. Từ năm 2021, sở xây dựng kế hoạch hỗ trợ và khuyến khích các hộ dân phát triển ít nhất 500ha tôm biển CNC, thực hiện tốt quản lý hoạt động nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh. 

Ông Nguyễn Minh Cảnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre cho biết, thời gian tới, Bến Tre triển khai đồng bộ các giải pháp từ cơ chế, chính sách đến đầu tư hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ. Đặc biệt là đẩy mạnh kêu gọi đầu tư trong lĩnh vực nuôi tôm ứng dụng CNC và đầu tư nhà máy chế biến tôm…Song song đó, tỉnh sẽ phát triển các mô hình hợp tác, liên kết các hộ nuôi, cơ sở nhỏ lẻ thành tổ hợp tác, hợp tác xã để tạo ra các vùng sản xuất nguyên liệu lớn, tập trung làm đầu mối liên kết với doanh nghiệp cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, giảm các khâu trung gian. 

Ngoài ra, sẽ chuyển đổi một số vùng sản xuất nông nghiệp kém hiệu quả thành vùng nuôi thủy sản chuyên canh, phù hợp với quy hoạch, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Ưu tiên thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống kênh cấp thoát nước với các vùng nuôi tôm tập trung, vùng nuôi tôm ứng dụng CNC. Đặc biệt, tỉnh sẽ tập trung giải quyết về vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng như điện, công trình giao thông, thủy lợi…liên kết các công ty, doanh nghiệp hỗ trợ kỹ thuật, giúp người dân phát triển bền vững nghề nuôi tôm thâm canh tại Bến Tre.

TÍN HUY