Thực trạng và giải pháp dạy nghề Nông nghiệp tại TP. Hồ Chí Minh (phần 1)

Hiện trạng nông nghiệp thành phố

       Ở vào vị trí địa lý thuận lợi với đặc điểm riêng có, thành phố Hồ Chí Minh có tốc độ phát triển mạnh, đa dạng; trung tâm kinh tế, văn hoá, KHKT; đầu mối giao thông khu vực phía Nam và cả nước, nơi giao lưu quốc tế giữa nước ta với các nước vùng Ðông Nam Á và thế giới. Là một trong những thành phố lớn cả về diện tích đất đai và dân số, năm 2015 dân số thành phố đạt trên 10,0 triệu người (kể cả dân nhập cư), sinh sống trên diện tích 209.300ha. Đất sản xuất nông nghiệp kể cả nuôi trồng thuỷ sản, làm muối còn khoảng 90.000 ha, không kể rừng và cây xanh đô thị. Tuy nhiên, do quá trình ÐTH, CNH nên diện tích đất nông nghiệp giảm dần qua từng năm, bình quân hơn 1200 ha/năm từ năm 2000 đến nay. Nông nghiệp thành phố Hồ Chí Minh mang một số đặc điểm nông nghiệp của các siêu đô thị trên thế giới như Bangkok, Jakarta, Shanghai… Mặc dầu cơ sở hạ tầng phát triển đẩy nông nghiệp ra xa nội đô, nhưng thành phố Hồ chí Minh vẫn tồn tại ba vùng sản xuất nông nghiệp ở nội thành, ven đô, và ngoại thành như ở các đô thị lớn khác trên Thế giới.

        Vùng nội thành, gồm 13 quận cũ: 1,3,4,5,6,8,10,11, Tân Bình, Phú Nhuận, Tân Phú, Bình Thạnh và Gò Vấp tồn tại các loại hình sản xuất nông nghiệp sử dụng ít đất canh tác, hoặc không cần đất như nuôi cá cảnh, nuôi chim kiểng, trồng hoa cây kiểng, rau mầm, rau thủy canh, trồng cây xanh trong chậu, trên ban công, sân thượng…

        Vùng ven đô, gồm 6 quận nội thành mở rộng: 2, 7, 9, 12, Thủ Đức và Bình Tân hoạt động nông nghiệp chủ yếu là quảng canh do vẫn còn đất nông nghiệp xen cài các khu dân cư, công trình xây dựng. Nhưng người dân không đầu tư, thậm chí bỏ hoang đất chờ chuyển đổi chức năng sử dụng do gần nội đô, nằm trong quy hoạch mở rộng đô thị nên đất nông nghiệp rất có giá trị và liên tục tăng cao, tạo nên sự cạnh tranh gay gắt giữa việc tiếp tục sản xuất nông nghiệp hoặc bán đất.

        Vùng ngoại thành, gồm 5 huyện: Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, và Cần Giờ. Do xa khu vực nội đô nên đất nông nghiệp và lực lượng lao động nông nghiệp còn nhiều và tương đối ổn định. Tuy nhiên, do sự canh tranh gay gắt về thu nhập, việc làm nên lao đông nông nghiệp trẻ bỏ đồng ruộng, vào nội thành làm thuê khiến cho nông thôn thành phố Hồ Chí Minh chỉ còn những người già bám trụ với ruộng đồng. Đây là vùng cung cấp các sản phẩm nông nghiệp chính cho cư dân đô thị, trình độ thâm canh cao với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là các sản phẩm phục vụ cho yêu cầu tiêu dùng, giải trí của cư dân đô thị và xuất khẩu. Do đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, chỉ vài ngàn mét vuông, và manh mún nên quy mô sản xuất chủ yếu vẫn là nông hộ, nhưng đã có sự liên kết chặt chẽ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm dưới các hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã…

        Nông nghiệp đô thị thành phố Hồ Chí Minh là nền nông nghiệp ứng dụng KHKT, ứng dụng CNC gắn kết được 3 yếu tố: kinh tế, xã hội và môi trường với các nguyên tắc liên quan đến việc hình thành môi trường sản xuất với các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chất lượng sản phẩm ổn định, cung cấp năng lượng đầy đủ, và thỏa mãn các nhu cầu khác của con người. Nông nghiệp ứng dụng CNC thành phố đã và đang hình thành dưới 2 hình thức: khu nông nghiệp CNC, và các vùng chuyên canh cây trồng, vật nuôi khắp 3 vùng sản xuất. Đó là, vùng sản xuất cá cảnh ở q. 8, 12, 2, TĐ, Củ  Chi, BC; vùng trồng rau an toàn ở CC, HM, BC; vùng chăn nuôi bò sữa ở CC, HM, BC; làng nghề hoa mai ở q.TĐ, q.12; vùng trồng cây kiểng ở q.GV, q.12,CC; vùng trồng hoa lan ở khắp các quận nội thành, và các huyện ngoại thành (trừ CG); vùng nuôi trồng thủy sản và tôm ở NB, CG; vùng nuôi và chế biến da cá sấu ở q.12, Hóc Môn, Củ Chi; vùng cây ăn trái kết hợp du lịch ven sông Sài Gòn, Ðồng Nai… Đây là kết quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi từ cây lúa năng suất thấp trong gần 15 năm qua, bắt đầu từ năm 2004, nhằm tạo ra những sản phẩm không những có giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần cây lúa góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống bà con nông dân vùng ven, ngoại thành, xây dựng NTM mà còn tạo ra những sản phẩm riêng có, mang đặc thù của nông nghiệp đô thị thành phố Hồ Chí Minh.

 Thực trạng dạy nghề nông nghiệp tại thành phố

  1. Thủ Tướng Chính Phủ đã có Quyết định 1956/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, trong đó đối tượng dạy nghề là lao động nông thôn trong độ tuổi lao động, có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học. Ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác.

        Tại Quyết định 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015, quy định trên đã được sửa đổi, bổ sung. Cụ thể, đối tượng dạy nghề là lao động nông thôn từ đủ 15- 60 tuổi (đối với nam), 55 tuổi (đối với nữ), có trình độ học vấn và sức khỏe phù hợp với nghề cần học, bao gồm:

        + Người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã.

        + Người lao động có hộ khẩu thường trú tại phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc thuộc hộ gia đình có đất nông nghiệp bị thu hồi.

        Trong các đối tượng nêu trên, ưu tiên đào tạo nghề cho người lao động thuộc diện hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người thuộc hộ gia đình bị thu hồi đất nông nghiệp, ngư dân. Quyết định cũng bổ sung quy định tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Cụ thể, việc tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn (bao gồm cả đào tạo nghề nông nghiệp và đào tạo nghề phi nông nghiệp) chủ yếu là dạy thực hành và được thực hiện tại nơi sản xuất. Thời gian đào tạo phải phù hợp với nghề đào tạo, đặc điểm của quy trình sản xuất, quy trình sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi ở từng vùng, từng địa phương và phù hợp với nhu cầu của người học. Các nghề đào tạo cho lao động nông thôn phải đa dạng, cụ thể, theo nhu cầu của người học và thực tiễn sản xuất; từ đào tạo một công đoạn, một kỹ năng nghề nhất định, đến đào tạo cấp văn bằng, chứng chỉ một cách đầy đủ, toàn diện theo quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp.

        Như vậy, so với các quy định chung của cả nước, đào tạo nghề nông nghiệp tại thành phố Hồ chí Minh có sự khác biệt nhất định. Đó là đào tạo các nghề nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ cao với các đối tượng cây trồng, vật nuôi đã được xác định phục vụ cho việc phát triển các vùng chuyên canh, góp phần xây dựng NTM.

  1. Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều cơ sở được giao đào tạo nghề nông nghiệp như Trung Tâm Dạy nghề NNCNC, thuộc Ban Quản lý khu NNCNC; Trường Trung cấp Nông nghiệp và Trung Tâm Khuyến nông, thuộc sở Nông nghiệp & PTNT; các Trường Dạy nghề thuộc hệ thống Nhà nước tại các quận huyện; các Trường dạy nghề tư nhân như Trường Dạy nghề Bonsai Thanh Tâm, quận 12… Mỗi cơ sở đều có chức năng, nhiệm vụ để đào tạo nghề nông nghiệp. Cụ thể như, Trung Tâm Khuyến nông Quốc gia được Bộ NN&PTNT giao nhiệm vụ đào tạo nghề bổ sung vào chức năng huấn luyện, đào tạo nông dân đã được quy định từ khi mới thành lập. Và như thế, các Trung Tâm Khuyến nông các tỉnh thành cũng tham gia lãnh vực này theo hệ thống. Tuy nhiên, đến 2016 mới chỉ có 32/63 TTKN tỉnh, thành phố được các sở Lao động, Thương binh & Xã hội cấp phép đào tạo. Sở Nông nghiệp & PTNT thành phố giao nhiệm vụ đào tạo này cho Trường Trung cấp Nông nghiệp trực thuộc. Ủy Ban Nhân Dân các quận huyện cũng giao nhiệm vụ đào tạo nghề cho lao đông nông thôn trên địa bàn cho các Trung Tâm dạy nghề trực thuộc. Gần đây Ban Quản lý khu NNCNC thành phố cũng thành lập mới Trung Tâm dạy nghề NNCNC nhằm phục vụ cho việc chuyển giao kiến thức nông nghiệp mới cho bà con nông dân trong vùng. Đối với các Trường nghề tư nhân, Bonsai Thanh Tâm là một trong những cơ sở tổ chức đào tạo một số nghề như bonsai, tiểu cảnh, trồng Lan, nuôi cá cảnh… rất hiệu quả. Đối tượng theo học khá rộng rãi, bao gồm cả miền Đông và Tây Nam bộ. Một điều đáng bàn đó là, chưa có sự phối hợp chặt chẻ giữa các cơ sở đào tạo này, hoặc chỉ là sự phối hợp song phương khi triển khai đào tạo trên một địa bàn cụ thể với các đối tượng cây trồng, vật nuôi nhất định chứ chưa có sự phối hợp toàn diện, thống nhất chương trình, kế hoạch đào tạo chung toàn thành phố.
  2. Về nội dung, chất lượng, quy trình đào tạo cũng có nhiều vấn đề cần bàn. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT vùng Đông Nam bộ; trong đó có thành phố Hồ chí Minh, trong 3 năm (2010-2012) chỉ có 15, 6% số người sau khi học nghề có việc làm mới, và có tới 52,1% người quay lại làm nghề cũ có năng suất và thu nhập cao hơn; số còn lại được các doanh nghiệp, hoặc các hợp tác xã (HTX) bố trí công việc. Đáng chú ý nữa là mới chỉ có 4,4% số người học xong có việc làm được bao tiêu sản phẩm làm ra. Tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long số người học nghề nông nghiệp ra có công việc mới và quay lại nghề cũ nhưng có thu nhập cao hơn đạt tới 76,3%. Số người sau khi học, làm ra sản phẩm và được bao tiêu chỉ đạt 2,4% với nghề nông nghiệp, và 97,4% với nghề phi nông nghiệp….

       Tác giả: TS. Trần Viết Mỹ – Phó Chủ tịch Hội Sinh vật cảnh thành phố Hồ Chí Minh