Nâng cao chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn TP.HCM (phần 1)

Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH – HĐH) và hội nhập Quốc tế. Một trong những yếu tố đáp ứng trực tiếp cho thời kỳ CNH – HĐH là lực lượng lao động lành nghề, trong đó công tác đào tạo nghề có vai trò quan trọng. Tuy nhiên, trên thực tế, công tác đào tạo nghề ở nước ta nói chung và tại TP.HCM nói riêng còn có những hạn chế nhất định. Do đó, để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ tốt cho quá trình CNH – HĐH thì trước hết chúng ta cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề, cung cấp cho xã hội một lực lượng lao động có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp, tính kỷ luật tốt,….

  1. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề

     Hiện nay, đang có nhiều tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghềgiữa các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp (DN),song có thể tóm tắt lại thành 3 tiêu chí đang được sử dụng phổ biến: kiến thức,kĩnăng thực hành nghề cơ bản và thái độ nghề nghiệp. Để thực hiện được việc đào tạo theo các tiêu chí trên, các cơ sở đào tạo nghề cần phải xây dựng các chương trình dạy nghề với mục tiêu rõ ràng, qui định cụ thể chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ. Đồng thời phải có đội ngũ giảng viên (GV) đủ về số lượng, phù hợp về cơ cấu và đạt chuẩn theo qui định. Hệ thống phòng học, xưởng thực hành… cũng phải đáp ứng các hoạt động dạy học, thực hành nghề.

  1. Thực trạng chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn TP. HCM

     Hiện nay, trên địa bàn TP. HCM, số lượngcơ sở dạy nghề tương đối nhiều và đa dạng về hình thức sở hữu, số liệu được thống kê trong bảng 1. Với số lượng cơ sở đào tạo nghề như đã trình bày, theo Tổng cục dạy nghề, năm 2015 TP. HCM đã đào tạo được 402.172 học viên. Trong đó cao đẳng nghề (CĐN) đào tạo được 15.107 học viên, trung cấp nghề (TCN) đào tạo được 6.565 học viên, sơ cấp nghề và đào tạo dưới 3 tháng được 380.500 lượt người.

Bảng 1: Số lượng các cơ sở dạy nghề trên địa bàn TP. HCM

Nội dung Đơn vị tính 2015 2016
Cao đẳng nghề Cơ sở 15 17
Trung cấp nghề Cơ sở 28 27
Trung tâm dạy nghề Cơ sở 62 64
Các cơ sở dạy nghề khác Cơ sở 325 325
Tổng cộng 430 433

                                                                                                                            Nguồn: Cục thống kê TP.HCM

     Để thực hiện đề tài thực trạng chất lượng đào tạo nghề trên địa bàn TP. HCM, tác giả Nguyễn Thị Minh Tâm đã tiến hành khảo sát trực tiếp 200 lao động đã qua đào tạo nghề tại một số Trường cao đẳng nghề, trung cấp nghềtừ năm 2013 đến năm 2016, các chuyên gia trong ngành và giáo viên một số trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên địa bàn TP. HCM.

     Có 5 mức được tác giả đưa ra: mức 1: rất không tốt; mức 2: không tốt; mức 3: trung bình; mức 4: tốt; mức 5: rất tốt.

– Về chất lượng đầu ra

Bảng 2: Kết quả khảo sát về tiêu chí chất lượng đầu ra

V1: Mức độ đáp ứng về kiến thức, kĩ năng nghề của HV theo yêu cầu của DN
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 2 12 101 50 35
Tỷ lệ (%) 1 6 50,5 25 17,5
V2: Mức độ đáp ứng về tính kỉ luật và tác phong của HV theo yêu cầu của DN
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 1 3 65 118 13
Tỷ lệ (%) 0,5 1,5 32,5 59 6,5

                                                                                                                                            Nguồn: Nguyễn Thị Minh Tâm, 2016

     Bảng trên cho thấy có đến 57,5% cho rằng HV tốt nghiệp mới có kiến thức, kĩ năng nghề theo yêu cầu của DNở mức trung bình trở xuống. Bên cạnh đó cũng có đến 34,5% HV đáp ứng về tính kỉ luật và tác phong theo yêu cầu của DN ở mức trung bình trở xuống. Nguyên nhân có thể xuất phát từ chuẩn đầu ra của các trường dạy nghềtrên địa bàn TP. HCM và chuẩn đầu vào của DN chưa gặp nhau. Nhưng nhìn chung thì chất lượng sản phẩm đầu ra của của các trường dạy nghềtrên địa bàn TP. HCMvẫn còn một tỷ lệ lớn chưa đáp ứng yêu cầu của khách hàng.

– Về chương trình đào tạo:

Bảng 3: Chương trình đào tạo

V1: Cụ thể hóa chương trình đào tạo thành các mô đun giảng dạy
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 2 12 50 100 36
Tỷ lệ (%) 1 6 25 50 18
V2:Có đầy đủ và công khai chương trình các nghề TTDN đang đào tạo
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 1 3 35 148 13
Tỷ lệ (%) 0,5 1,5 17,5 74 6,5
V3: Định kì cập nhật, bổ sung điều chỉnh chương trình
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 2 62 33 98 5
Tỷ lệ (%) 1 31 16,5 49 2,5

                                                                                                                     Nguồn: Nguyễn Thị Minh Tâm, 2016.

     Bảng trên cho thấy hầu hếtcác trường dạy nghề trên địa bàn TP. HCM có tương đối đầy đủ chương trình các nghề đang đào tạo và các chương trình này được công khai rộng rãi đến HV, chương trình đào tạo của các nghề đang dạy đã được cụ thể hóa thành các mô đun và đa số chương trình đã được chỉnh sửa, cập nhật.

– Về đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên:

Bảng 4: Đội ngủ cán bộ quản lý và giáo viên

V1: Mức độ đạt chuẩn về bằng cấp và kinh nghiệm của cán bộ quản lý
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 14 16 47 95 28
Tỷ lệ (%) 7 8 23,5 47,5 14
V2: Mức độ đạt chuẩn về sư phạm và sự thành thạo kĩ năng nghề của GV.
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 5 3 61 76 16
Tỷ lệ (%) 2,5 1,5 30,5 57,5 8
V3: GV chú trọng dạy thực hành, phát huy kinh nghiệm sẵn có của HV
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 2 25 72 93 5
Tỷ lệ (%) 1 12,5 36 46,5 2,5

                                                                                                                    Nguồn: Nguyễn Thị Minh Tâm, 2016.

     Số liệu khảo sát cho thấy ở các nội dung khảo sát vẫn còn một tỷ lệ từ trung bình trở xuống khá cao. Theo báo cáo dạy nghề năm 2014, giáo viên tại trường TCN có số người chưa đạt chuẩn về thực hành nghề cao nhất chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,76%; tiếp theo là trường CĐN là 30,82%; TTDN là 10,05%. Khối cơ sở khác có dạy nghề 34,75% giáo viên chưa đạt chuẩn kỹ năng thực hành nghề

Về thiết bị, vật tư dạy nghề

Bảng 5: Thiết bị, vật tư dạy nghề

V1: Số lượng thiết bị dạy nghề đáp ứng yêu cầu thực hành theo chương trình
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 47 95 28 14 16
Tỷ lệ (%) 23,5 47,5 14 7 8
V2: Chủng loại thiết bị dạy nghề phù hợp với nghề đào tạo
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 5 3 61 76 16
Tỷ lệ (%) 2,5 1,5 30,5 57,5 8
V3: Cung ứng kịp thời, đầy đủ vật tư giảng dạy
Mức 1 Mức 2 Mức 3 Mức 4 Mức 5
Số phiếu 25 72 93 2 5
Tỷ lệ (%) 12,5 36 46,5 1 2,5

                                                                                                                                   Nguồn: Nguyễn Thị Minh Tâm, 2016.

     Số liệu trong bảng cho thấy cơ sở vật chất tại các trung tâm dạy nghề đang nằm trong tình trạng thiếu và yếu. Cụ thể như máy tiện, trong khi các công ty, xí nghiệp sử dụng những loại máy tiện đời mới, trị giá hàng chục tỷ đồng/chiếc, hoàn toàn tự động, thao tác bằng cách lập trình sản phẩm trên máy vi tính rồi “bấm nút”, máy sẽ tự động làm ra sản phẩm. Trong khi đó, nhiều trường hiện nay vẫn còn sử dụng các loại máy cũ kỹ bằng cách quay tay. Kể cả các mô hình sử dụng máy móc công nghệ mới như cầu thang điện cũng không có để phục vụ cho việc dạy học. Trên địa bàn TP. HCM hiện nay chỉ có vài trường được đầu tư, trang bị những loại máy thực hành khá tốt như Trường Cao đẳng Nghề TP. HCM, Trường Cao đẳng Hùng Vương và Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM…; các trường, trung tâm còn lại thì máy móc trang thiết bị chưa đồng bộ, hoặc chỉ đáp ứng được 1-2 ngành nghề đào tạo, còn lại chưa đáp ứng được việc dạy và học hiện nay. Một HVđang học nghề sửa xe máy tại Trung tâm Dạy nghề huyện Bình Chánh phân trần: “Chúng em học nghề sửa xe máy, nhưng máy móc thực hành không có, xưởng chỉ được một vài bộ máy từ mấy chục năm về trước, trong khi đó nhiều loại xe hiện đại sử dụng tay ga thì chúng em không được học. Mang tiếng là sắp thành thợ sửa xe máy nhưng vẫn còn xa lạ với những xe tay ga mà xã hội đang sử dụng hiện nay”….(còn tiếp)

TS. Trương Quang Dũng – Phó Trưởng khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Công nghệ TP.HCM