Mô hình luân canh cây trồng kiểu mới giúp chống lại sâu bệnh

Các nhà khoa học Maria Bargués-Ribera và Chaitanya Gokhale của Viện Sinh học tiến hóa Max Planck ở Đức đã sử dụng mô hình tính toán PLOS để nghiên cứu xác định việc luân canh các loại cây trồng khác nhau (trồng nhiều loại cây trồng khác nhau) có tác động đến năng suất dài hạn, khi cây trồng đang bị các mầm bệnh đe dọa.

Sự phát triển liên tục các mầm bệnh thực vật tạo nên mối đe dọa cho nông nghiệp toàn cầu. Trước đây, đã có nghiên cứu cho thấy, luân canh cây trồng có thể giúp cải thiện, kiểm soát dịch hại và chất lượng đất. Nghiên cứu khác chỉ ra, việc thay đổi môi trường có mầm bệnh đang phát triển có thể hạn chế quá tình sinh sản và tiến hóa của nó. Tuy nhiên, hai nội dung này rất ít khi được nghiên cứu cùng nhau, theo quan điểm tiến hóa.

Để hiểu rõ hơn về cách luân canh cây trồng giúp bảo vệ cây chống sâu bệnh, Bargués-Ribera và Gokhale đã phát triển một mô hình tính toán, sử dụng kỹ thuật tích hợp lý thuyết tiến hóa. Họ đã sử dụng mô hình để nghiên cứu kịch bản, trong đó loại cây trồng để bán và loại cây trồng để cải tạo đất sẽ được trồng luân phiên, nhưng mầm bệnh chỉ tấn công vào loại cây trồng để kinh doanh.

Phân tích xác định mô hình luân canh cây trồng giúp tối đa hóa năng suất trồng trong nhiều thập kỷ, theo những kịch bản nhất định, đã cho thấy, luân canh thường xuyên hàng năm không phải là tối ưu. Kết quả cho thấy, giá trị bền vững của việc luân canh cây trồng phụ thuộc vào khả năng duy trì chất lượng đất và giảm mầm bệnh trong mùa thu hoạch.

“Mô hình này là một ví dụ về việc bổ sung lý thuyết tiến hóa cho nông dân,” Bargués-Ribera nói. “Trong điều kiện nhu cầu lương thực ngày càng tăng, các giải pháp về sinh thái và tiến hóa có thể khai thác để hình thành các chiến lược sản xuất nông nghiệp hiệu quả và bền vững”.

Hướng nghiên cứu sắp tới là ứng dụng vào một vài loài cụ thể (cùng tình trạng sâu bệnh của chúng) để đánh giá mô hình luân canh cây trồng. Mô hình này cũng có thể dùng để nghiên cứu các tác động kết hợp, giữa luân canh cây trồng và các kỹ thuật kiểm soát dịch hại khác, ví dụ như thuốc diệt nấm, các loại cây trồng được biến đổi gen để kháng sâu bệnh.

Theo CESTI

http://iasvn.org/homepage/Mo-hinh-luan-canh-cay-trong-kieu-moi-giup-chong-lai-sau-benh-12928.html

Khi tiêu chuẩn trở thành “người dẫn đường” cho nông nghiệp hữu cơ

Nông nghiệp hữu cơ sẽ là xu hướng tất yếu trong thời gian tới, bởi những đòi hỏi của thị trường, người tiêu dùng khiến nông dân phải tính đến chuyện làm ra những sản phẩm chất lượng hơn, năng suất cao hơn. Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vẫn đứng trước những thách thức khi chưa đẩy mạnh áp dụng bộ tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam dành riêng cho nông nghiệp hữu cơ vào phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến tiêu thụ.

Nông nghiệp hữu cơ sẽ là xu hướng tất yếu trong thời gian tới.

Nông nghiệp hữu cơ, xu hướng tất yếu

Sản xuất hữu cơ là xu hướng phát triển tất yếu của nền nông nghiệp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Theo các chuyên gia nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ mang lại nhiều lợi ích như duy trì và bảo vệ toàn bộ độ phì nhiêu của đất; ít gây ô nhiễm nguồn nước; bảo vệ đời sống hoang dã của các loài chim, ếch, nhái, côn trùng…; tính đa dạng sinh học cao và tạo dựng được nhiều cảnh quan đẹp; đối xử tốt hơn đối với các động vật nuôi cũng như con người; ít sử dụng năng lượng và đầu vào không có khả năng phục hồi từ bên ngoài; ít dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm; không có chất kháng sinh và hoócmôn trong các sản phẩm động vật; chất lượng sản phẩm tốt hơn, sạch hơn, an toàn hơn.

Tại Việt Nam, việc nỗ lực phát triển một nền nông nghiệp bền vững, thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm, trong đó có nông nghiệp hữu cơ trở nên cực kỳ sôi động thời gian vừa qua. Từ chỗ chỉ có 8 tỉnh, thành phố xây dựng mô hình nông nghiệp hữu cơ vào năm 2008, đến nay đã có 33/63 tỉnh, thành phố xây dựng mô hình này, với 76.000ha đất canh tác nông nghiệp hữu cơ đang phát triển,…

Theo thông tin khảo sát gần đây nhất của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho thấy, nông nghiệp hữu cơ đã có trên tất cả các lĩnh vực: trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp. Việt Nam có lợi thế phát triển nông nghiệp hữu cơ, thế nhưng còn tùy thuộc vào thực tế mỗi vùng, miền.

Tuy nhiên, không thể phủ nhận hiện nay là các mô hình làm vườn của chúng ta còn khá manh mún, nhiều người có diện tích lớn lại gặp khó về các điều kiện để phát triển nông nghiệp hữu cơ. Những vùng miền thích ứng nhanh hơn với công nghệ lại không có quỹ đất để phát triển. Điều đó khiến doanh nghiệp cũng như người tiêu dùng khó khăn trong việc tiếp cận, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Hoàn thiện hệ thống các tiêu chuẩn về nông nghiệp hữu cơ

Với những bước phát triển đáng ghi nhận, nông nghiệp hữu cơ ngày càng gần gũi trong đời sống của chúng ta. Tuy nhiên, muốn nông nghiệp hữu cơ Việt Nam phát triển mạnh và bền vững thì trước tiên cần phải giải bài toán đặt ra vấn đề tiêu chuẩn chất lượng.

Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho biết, trong quá trình thực hiện các dự án nông nghiệp hữu cơ, các doanh nghiệp, tổ chức vấp phải khá nhiều khó khăn không những đến từ nội tại mà còn có một số yếu tố khách quan. Ngoài ra, các sản phẩm tự gọi là hữu cơ không có chứng nhận xuất hiện tràn lan trên thị trường nên các sản phẩm hữu cơ từ các nhà sản xuất, cung cấp có uy tín bị ảnh hưởng nặng nề vì khó cạnh tranh được từ giá thành cho đến sản lượng.

Nông nghiệp hữu cơ cần phải để tiêu chuẩn trở thành “người dẫn đường”.

Vì thế, nông nghiệp hữu cơ cần được đặt trong một kế hoạch dài hạn, xứng tầm và thực hiện từng bước một. Cần sự góp sức của cả cộng đồng chứ không riêng gì tổ chức, cá nhân nào. Nhà nước đóng vai trò quan trọng, nhưng ngược lại, nông dân cũng phải tự nhận thức được quyền lợi, trách nhiệm của mình mới mong thay đổi được cách nhìn khác của thế giới về nông nghiệp Việt Nam, từ đó, sản phẩm nông sản của chúng ta mới được đánh giá đúng và chiếm lĩnh bền vững thị trường.

Hiện tại, Bộ NN&PTNT đang lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà sản xuất để hoàn thiện đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ với mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới. Với mục tiêu đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh cho biết, Bộ NN&PTNT đang phối hợp với các bộ, ngành hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, hệ thống các tiêu chuẩn để hướng dẫn nông dân phát triển sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ sản xuất đến tiêu thụ, đồng thời có cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tham gia phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Ngoài ra để hỗ trợ cho các sản phẩm hữu cơ của Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành bộ tiêu chuẩn Việt Nam đầu tiên (TCVN 11041) dành riêng cho sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, chế biến và ghi nhãn sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Việc xây dựng các tiêu chuẩn Việt Nam về nông nghiệp hữu cơ được thực hiện trên cơ sở tham khảo các tiêu chuẩn quốc tế (CODEX, IFOAM…) và tiêu chuẩn của các nước có nền nông nghiệp hữu cơ phát triển như Mỹ, EU, Nhật cùng các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippines và Trung Quốc. Đây là bộ tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ đầu tiên của Việt Nam được Bộ KH&CN ban hành năm 2017 và . Bộ tiêu chuẩn bao gồm các tiêu chuẩn áp dụng cho nông nghiệp hữu cơ theo từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi. Việc đạt được chứng nhận nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn TCVN 11041 là bằng chứng cam kết cho việc sản xuất nông nghiệp bền vững. Đơn vị được chứng nhận sẽ được sử dụng dấu hữu cơ trên sản phẩm, đó chính là sự khẳng định chất lượng của sản phẩm nông nghiệp, nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Huyền Minh – CESTC.

Vùng đất trồng khóm phụng, khóm son, bán 1 trái giá 200 ngàn

Hiện nay, nhiều nông dân tại xã Thạnh Mỹ, huyện Tân Phước (Tiền Giang) tất bật chăm sóc những dứa (khóm) phụng, khóm son để kịp cung cấp cho thị trường tết. Năm nay, bà con trồng khóm phấn khởi vì được mùa, trúng giá.

1 trái khóm giá 200.000 đồng

Từ sáng sớm, anh Hà Kim Tình (ấp Mỹ Lộc, xã Thạnh Mỹ) đã tất bật ra đồng làm cỏ, tỉ mỉ chăm sóc cho những cây khóm phụng. Năm nay, anh Hà Kim Tình trồng được 500 cây khóm phụng. Đến thời điểm này, ruộng khóm phụng của gia đình anh đã rực sắc màu, nhiều cây khóm vươn mình, tạo dáng độc đáo trông rất đẹp.

Anh Hà Kim Tình (ấp Mỹ Lộc, xã Thạnh Mỹ, xã Thạnh Mỹ, huyện Tân Phước, Tiền Giang)  đang chăm sóc vườn khóm của gia đình. Ảnh: Thanh Lâm

Nhiều người có kinh nghiệm trồng khóm phụng, khóm son ở Thạnh Mỹ cho biết, khóm phụng có yêu cầu về hình dáng rất cao nên số trái đẹp mỗi vườn chỉ có khoảng 20 – 30%.

Tuy khóm mới bắt đầu tạo dáng, nhưng đã có thương lái đến đặt mua từ tháng trước, với giá bổ đồng 200.000 đồng/trái. Với giá bán này, khóm phụng bán tết năm nay có giá cao hơn nhiều so với các năm trước. Do năm nay, khóm có tỷ lệ trái đạt chất lượng rất cao, nhiều trái khóm có hình dáng to, nhiều nhánh và bắt mắt nên anh Hà Kim Tình chỉ bán trước trên 170 cây khóm, số còn lại anh để lại để bán vào dịp cận tết.

Anh Hà Kim Tình chia sẻ: “Năm nay, khóm phụng bán được giá cao nên gia đình tôi và bà con cũng rất mừng. Do thời tiết năm nay cũng khá thuận lợi nên khóm phụng đạt chất lượng cao, có nhiều trái ra khoảng 8 – 10 nhánh, rất đẹp. Giá bán khóm phụng năm nay cũng cao hơn nhiều so với năm trước. Hiện, tôi cũng bán được một phần, phần còn lại tôi sẽ bán vào 25 hoặc 26 tết này”.

Còn tại vườn ông Hà Văn Bảy, những cây khóm phụng cũng đã được ông trồng sẵn vào chậu để chờ bán vào dịp cận tết. Năm nay, gia đình ông Bảy trồng được 400 cây khóm phụng và 50 cây khóm son, tỷ lệ trái đạt khoảng trên 60%.

Gần 20 năm trồng khóm phụng, khóm son nên ông Bảy có rất nhiều kinh nghiệm. Theo ông Bảy, muốn có khóm phụng, khóm son bán vào đúng dịp tết thì từ khoảng tháng 2 âm lịch bắt đầu trồng cây giống, đến đầu tháng 9 âm lịch tiến hành xử lý cho khóm ra hoa. Đặc biệt, cần tưới nước đầy đủ, phòng trừ các loại côn trùng gây hại và phải che trái khi nắng nhiều để trái không bị nám. Ông Bảy dự kiến tết này gia đình sẽ có nguồn thu nhập trên 70 triệu đồng từ việc bán khóm phụng, khóm son.

Giảm diện tích, tăng chất lượng

Ông Cao Văn Sáng – Chủ tịch Hội Nông dân xã Thạnh Mỹ, huyện Tân Phước  cho biết: “So với các năm trước, năm nay tuy diện tích khóm phụng, khóm son trên địa bàn xã có giảm nhưng tỷ lệ trái đạt chất lượng rất cao, giá cả cũng tăng hơn nhiều, bà con rất phấn khởi”.

Hiện trên địa bàn huyện Tân Phước, khóm phụng, khóm son được trồng nhiều nhất tại xã Thạnh Mỹ, có khoảng 25 hộ trồng với tổng diện tích trên 1ha. Tuy diện tích không nhiều nhưng giá trị kinh tế của loại cây này mang lại rất cao giúp nhiều nông dân nơi đây có thêm thu nhập trong dịp tết đến.

Khóm phụng, khóm son là loại trái cây khá độc đáo, bởi hình dáng lạ và màu sắc bắt mắt. Mỗi khi tết đến, xuân về, nhiều gia đình thích chọn loại trái cây này chưng trên mâm ngũ quả. Chính vì thế, vào những ngày cuối năm, thương lái khắp nơi thường đổ về vùng trồng khóm phụng, khóm son của huyện Tân Phước để tìm mua.

Một năm chỉ trồng được một vụ tết, nhưng giá khóm phụng, khóm son lại cao gấp hàng chục lần so với khóm thường.

Thanh Nhàng – Thanh Lâm (Dân Việt)

 

 

 

Phát triển nông nghiệp ở Việt Nam thời công nghệ 4.0

Muốn phát triển theo hướng này, Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nền nông nghiệp và phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, 40% lực lượng lao động khu vực nông thôn, cùng hàng triệu mảnh ruộng nhỏ lẻ đang đặt ra nhiều thách thức đối với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững của ngành Nông nghiệp nước ta.

Xu hướng ứng dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất nông nghiệp

Nghiên cứu các nước thấy rằng, ứng dụng công nghệ 4.0 vào trong sản xuất nông nghiệp đã trở thành xu hướng và được Chính phủ quan tâm, chú trọng phát triển. Điển hình là: Thái Lan đã ban hành chính sách đổi mới công nghệ định hướng nông nghiệp và thực phẩm theo ứng dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính phủ nước này còn xây dựng chương trình hành động cho phát triển từng vùng với các sản phẩm cụ thể cho từng lĩnh vực.

Tương tự như Thái Lan, tất cả trang trại, nhà lưới tại Israel đều được trang bị hệ thống điều khiển kỹ thuật số với cảm biến và điều khiển tự động. Hay như Đài Loan (Trung Quốc) đã xây dựng và triển khai chương trình nông nghiệp 4.0 quy định 10 nhóm ngành, lĩnh vực được ưu tiên lựa chọn để ứng dụng công nghệ 4.0. Đặc biệt, để khuyến khích ứng dụng công nghệ cao phát triển nông nghiệp, bên cạnh việc ứng dụng công nghệ, tập trung vào thương hiệu, quảng bá thương hiệu, Đài Loan còn ưu tiên tập trung vào logistics trong nông nghiệp…

Tại Việt Nam, qua 30 năm đổi mới, ngành Nông nghiệp đã đạt được những thành tựu quan trọng, giá trị sản phẩm gia tăng nhiều lần, sản lượng nông sản hàng hóa ngày càng đa dạng, thu nhập và đời sống người nông dân được cải thiện. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp hàng hóa chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam. Thực tế, quy mô sản xuất nhiều ngành hàng còn manh mún, chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản chưa cao. Mặt khác, khu vực nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 70% dân số và khoảng 40% lực lượng lao động với hàng triệu mảnh ruộng nhỏ lẻ đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững.

Cách mạng công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật, điện toán đám mây và công nghệ viễn thám… là cơ hội để Việt Nam nắm bắt các công nghệ mới thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nền kinh tế phát triển khác trên thế giới và đẩy mạnh sự phát triển của ngành Nông nghiệp.

Các ứng dụng của công nghệ số sẽ hỗ trợ lập kế hoạch, tính toán chi phí, doanh thu theo mùa vụ, thu thập, phân tích thông tin môi trường, điều khiển các thiết bị để giữ cho môi trường tuân theo đúng quy trình chuẩn. Đồng thời, hỗ trợ hệ thống cảnh báo tự động, hỗ trợ phân tích, đánh giá chất lượng, năng suất và đề xuất các giải pháp tối ưu cho nhà nông; thiết lập hệ sinh thái cho nhà nông, chuyên gia, nhà phân phối và đơn vị thu mua trao đổi thông tin, tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm, lên kế hoạch sản xuất.

Từ đó, góp phần tăng năng suất, chất lượng của cây trồng và giảm chi phí đầu tư so với phương thức truyền thống. Các sản phẩm của trí tuệ nhân tạo và xu hướng ứng dụng phần mềm, chip cảm biến trong các hệ thống quản lý sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, từ giai đoạn ươm mầm, xuống giống đến thu hoạch và bảo quản theo quy trình chuẩn, sẽ thúc đẩy tự động hóa quy trình trồng trọt, chăn nuôi và thủy hải sản.

Cách mạng công nghiệp 4.0 với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, internet vạn vật, điện toán đám mây và công nghệ viễn thám… là cơ hội để Việt Nam nắm bắt các công nghệ mới thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển với các nền kinh tế phát triển khác trên thế giới và đẩy mạnh sự phát triển của ngành Nông nghiệp.

Công nghệ số sẽ giúp cải thiện chất lượng dự báo ảnh hưởng của biến đổi khí hậu để ra quyết định sản xuất nông nghiệp, ứng dụng trong chương trình bảo hiểm, khuyến cáo trong các quyết định đầu tư trồng trọt của người sản xuất. Sự kết hợp giữa internet vạn vật và dữ liệu lớn sẽ làm thay đổi hoàn toàn chuỗi cung ứng trong thời gian tới, cụ thể:

– Đối với các sản phẩm nông nghiệp, internet vạn vật sẽ chuyển từ hệ thống phân phối truyền thống sang buôn bán trực tuyến và kết nối người tiêu dùng với người sản xuất, phân tích và dự báo nhu cầu để ra quyết định sản xuất. Ngoài ra, internet vạn vật sẽ giúp tăng hiệu quả truy xuất nguồn gốc và kiểm soát an toàn thực phẩm.

– Đối với hệ thống tổ chức hành chính công trong nông nghiệp, cơ hội để tận dụng công nghệ số gồm: Công nghệ viễn thám kết hợp với internet vạn vật và dữ liệu lớn để giúp hỗ trợ cho quản lý thông tin cho quy hoạch, giám sát cung – cầu, quản lý và cảnh báo thiên tai, dịch bệnh, kết nối thị trường và phản hồi chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Nguồn nhân lực – Lực cản lớn đối với phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

Các nghiên cứu cho thấy, để ứng dụng hiệu quả thành tựu công nghệ cao vào phát triển nông nghiệp, nền nông nghiệp Việt Nam cần phải tháo gỡ những khó khăn nhất định, trong đó có vấn đề về chất lượng nguồn nhân lực.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh của nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế xếp thứ 73/133 quốc gia được xếp hạng. Báo cáo Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam thấp hơn năng suất lao động của Trung Quốc 2,5 lần; thấp hơn Thái Lan 4,2 lần…

Thực tế cho thấy, hiện nay Việt Nam đang rất thiếu lao động lành nghề, có trình độ chuyên môn và đang phải đối diện với những thách thức lớn về sự thiếu hụt lao động có trình độ cao và kỹ năng chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho nông nghiệp 4.0. Hệ thống đào tạo nghề cũng còn lạc hậu, chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao cho sản xuất và đời sống.

Đào tạo nghề vẫn chủ yếu là giảng dạy, hướng dẫn những kiến thức kỹ năng mà các tổ chức dạy nghề có, không thực sự xuất phát từ yêu cầu của người học. Chương trình đào tạo còn mang tính lý thuyết cao, thiếu yếu tố thực hành. Dạy nghề chưa kết hợp với sử dụng tạo việc làm, chưa gắn kết chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Khảo sát cho thấy, lượng sinh viên ra trường tuy nhiều nhưng trình độ và kỹ năng làm việc lại hạn chế, chưa phát huy được tính sáng tạo; tư duy logic và giải quyết vấn đề của sinh viên còn yếu, tính thực tiễn không cao. Trình độ thấp của người lao động đã ảnh hưởng lớn đến việc tiếp cận khoa học – công nghệ. Đặc biệt, ở những vùng, miền có nền kinh tế kém phát triển, còn nhiều khó khăn thì đây là rào cản lớn trong việc xây dựng quy mô của một nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao…

Phát triển nguồn nhân lực tăng cường ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp

Việt Nam có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp nhưng phần lớn nguồn nhân lực làm việc trong khu vực này (với tỷ trọng khoảng 46%) vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ mới. Dự báo, đến năm 2020, nguồn nhân lực khối ngành Nông nghiệp sẽ thiếu khoảng 3,2 triệu lao động đã qua đào tạo.

Việc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao để phát triển nền nông nghiệp, nông thôn là yêu cầu cấp bách và là thách thức lớn đang đặt ra. Căn cứ vào tình hình thực tế và thực trạng công tác đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay, thời gian tới cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

Cần cân đối, bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp, trong đó tập trung cho đào tạo dài hạn đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật cao ở các lĩnh vực then chốt như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin và khoa học quản lý…

Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ hình thành và phát triển các vườn ươm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong các trường đại học đào tạo về công nghệ, tạo hệ sinh thái cho các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ.

Đặc biệt, tiếp tục đẩy mạnh quá trình hoạt động và phát triển của các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; ưu tiên tài trợ cho các tổ chức, cá nhân có công trình khoa học – công nghệ xuất sắc. Mặt khác, có chính sách hướng vào việc đãi ngộ nhân tài phục vụ ở nông thôn, nông nghiệp, nhằm thu hút người giỏi quản lý và lãnh đạo về với nông thôn như: Tăng lương, tăng các khoản phúc lợi để tạo thu nhập cao cho cán bộ quản lý ở nông thôn, xóa bỏ sự bất hợp lý trong việc hưởng lương cao theo thâm niên công tác, tập trung ưu tiên chế độ trả lương theo hiệu quả công việc và tính sáng tạo.

Đồng thời, cần có những định hướng, chính sách về đào tạo, thu hút sinh viên vào học ngành Nông nghiệp, gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức sử dụng lao động; nên khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước thành lập cơ sở dạy nghề, thực hiện chương trình hợp tác đào tạo tại khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để đào tạo, huấn luyện công nhân, kỹ thuật viên, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp.

Về phía các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng, dạy nghề

Các trường đại học cần tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo và hướng nghiệp từ bậc phổ thông tại khu vực nông thôn; đa dạng hóa hình thức đào tạo dạy nghề, có cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề theo yêu cầu; đổi mới phương pháp đào tạo nghề, tập trung vào đào tạo năng lực thực hành, kỹ năng, kỹ thuật cốt lõi và các kỹ năng mềm cho học viên.

Các cơ sở giáo dục có đào tạo nguồn nhân lực nông – lâm – ngư nghiệp cần xây dựng kế hoạch đào tạo sát hơn với cơ cấu lại ngành Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Trước hết là đổi mới chương trình đào tạo từ bậc đại học, phổ thông, thậm chí, đổi mới ngay từ cấp tiểu học. Chương trình đào tạo phải hướng tới hệ thống giáo dục toàn diện, tăng cường chương trình đào tạo tổng hợp, đổi mới sáng tạo và nông nghiệp thông minh để phát triển nông nghiệp giá trị cao, bền vững. Đồng thời, phải lấy khoa học – công nghệ làm nền tảng, trụ cột trong chương trình đào tạo, tập trung truyền đạt tri thức, khuyến khích tính sáng tạo, phát triển trí tuệ, trang bị kiến thức và các kỹ năng khoa học…

Nghiên cứu thử nghiệm và triển khai mô hình học đại học thông qua những dự án thí điểm về đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp 4.0 theo cơ chế đặt hàng. Đồng thời, cấu trúc lại, điều chỉnh chương trình giảng dạy theo nhu cầu của các bên liên quan; Tích hợp, hợp tác chặt chẽ giữa nghiên cứu, thực hành trong môi trường chuyên nghiệp và sử dụng đầy đủ các nguồn lực từ ngân sách nhà nước và tư nhân.

Gắn đào tạo với thị trường lao động và đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp, lập sàn giao dịch việc làm kỹ thuật số kết nối với doanh nghiệp. Tăng cường sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động thực tiễn sản xuất… Đây là mấu chốt quan trọng để tạo ra nguồn nhân lực mới đáp ứng nhu cầu ứng dụng công nghệ cao trong phát triển sản xuất về phía nhà nước nông nghiệp thời kỳ 4.0.

http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/phat-trien-nong-nghiep-o-viet-nam-thoi-cong-nghe-40-309470.html

Phân bón hữu cơ: Hướng đi của nông nghiệp bền vững

Theo đánh giá của tổ chức FAO, hàng năm có khoảng 100 triệu tấn phân bón hóa học được đưa xuống đồng ruộng ở khắp các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, trong vòng 20 năm trở lại đây, có trên 165 triệu tấn phân bón các loại mà chủ yếu là phân bón hóa học được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp.

Phân bón hữu cơ là hướng đi bền vững cho ngành nông nghiệp

Nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với tình trạng lạm dụng hóa chất quá nhiều trong quá trình canh tác. Việc sử dụng phân hóa học liên tục đã làm ô nhiễm môi trường, đất đai bạc màu, suy thoái và lượng vi sinh vật trong đất giảm, làm suy giảm đa dạng sinh học, kéo theo đó là dịch bệnh phát sinh gây hại cho cây trồng có chiều hướng phức tạp, chất lượng nông sản không an toàn, ảnh hưởng đến sức khỏe con người…

Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho biết, hằng năm, sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam đã thải ra khoảng 40 triệu tấn rơm rạ và bã các loại cây (ngô, mía…), hơn 25 triệu tấn phân gia súc, gia cầm và xác bã cá… Riêng ĐBSCL đã có hơn 23 triệu tấn rơm rạ, hơn 4,6 triệu tấn trấu và hơn 2,3 triệu tấn cám được thải ra.

Nguồn phế thải này là tiềm năng rất lớn cho việc sản xuất phân bón hữu cơ. Nếu giải quyết tốt, không chỉ tạo ra một lượng phân bón hữu cơ lớn cho sản xuất nông nghiệp sạch, mà còn góp phần làm giảm ô nhiễm môi trường.

Theo Hiệp hội Phân bón Việt Nam, số lượng phế thải trong sản xuất nông nghiệp mỗi năm có thể sản xuất trên 8 triệu tấn phân hữu cơ, nhưng các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất phân hữu cơ còn rất ít.

Hiện nay mới có một số doanh nghiệp tạo được chỗ đứng trên thị trường như: Tập đoàn Quế Lâm, Tập đoàn Con Cò vàng hi-tech, Tổng công ty Sông Gianh, Công ty cổ phần Komix Thiên Sinh, Công ty Tiến Nông, Công ty TNHH hữu cơ Hiếu Giang, Công ty hữu cơ Dalto, Công ty Huy Hoàng…

Một số doanh nghiệp đã tiên phong ứng dụng công nghệ nano, tế bào gốc, công nghệ enzym, hitech… trong sản xuất phân bón hữu cơ. Điển hình như Tập đoàn Quế Lâm đã đưa mô hình sản xuất phân hữu cơ trên dây chuyền bán tự động và mô hình cung ứng phân bón phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Việc chuyển hướng sản xuất nông nghiệp hữu cơ là xu hướng phát triển tất yếu, đảm bảo cho một nền nông nghiệp bền vững, an toàn thực phẩm và đảm bảo sức khỏe cho con người.

Vì vậy, Nhà nước cần có Nghị quyết về phát triển chiến lược phân bón hữu cơ; Chính phủ sớm công bố bộ quy chuẩn quốc gia về phân bón hữu cơ và từ năm 2020 có lộ trình chấm dứt không phát triển và sử dụng các hóa chất trong sinh trưởng cây trồng (chấm dứt dần dùng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp).

Bên cạnh đó, Nhà nước cần quy hoạch cụ thể phân vùng thảm đất để khuyến cáo sản xuất phân bón hữu cơ, phân bón chuyên dùng cho các loại cây trồng; có định hướng phát triển chăn nuôi hữu cơ và thủy sản hữu cơ để khuyến khích phát triển các tập đoàn sản xuất phân hữu cơ trong nông nghiệp phục vụ cho chiến lược phát triển phân bón hữu cơ.

Cần có chính sách khuyến khích các nhà khoa học, nhà sản xuất phân bón hữu cơ nghiên cứu áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất các loại phân bón, phân hữu cơ công nghệ cao.

Hội Nông dân các cấp cần có nghị quyết về phát động phong trào nông dân làm phân bón hữu cơ và sử dụng phân bón hữu cơ trong sản xuất, có như vậy mới thực hiện phát triển một nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ bền vững.

Tâm Thảo

 

FAO: Giá lương thực thế giới tiếp tục tăng trong tháng 12/2019

Chỉ số giá thực phẩm công bố bởi Tổ chức Lương Nông Liên hiệp quốc (FAO) chạm mức cao nhất trong 5 năm trong bối cảnh nhu cầu về nhiên liệu sinh học tăng mạnh mẽ đối với dầu cọ và mía đường.

Giá thực phẩm thế giới tháng 12/2019 tăng trong tháng thứ ba liên tiếp, do giá dầu thực vật tăng mạnh. Theo đó, Chỉ số giá thực phẩm FAO đạt trung bình 181,7 điểm trong tháng 12/2019, tăng 2,5% so với tháng 11 và mức cao nhất kể từ tháng 12/2014.

Tính trong cả năm 2019, chỉ số này đạt trung bình 171,5 điểm, tăng 1,8% so với năm 2018 song vẫn thấp hơn 25% so với mức đỉnh năm 2011.

Chỉ số giá dầu thực vật tăng 9,4% so với tháng 11/2019, đánh dấu xu hướng tăng trong 6 tháng liên tiếp. Giá dầu tăng một lần nữa do giá dầu cọ tăng, nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định, đặc biệt từ ngành sản xuất diezen sinh học, và lo ngại về nguồn cung bị thắt chặt. Mặc dù giá tháng 12 tăng, cũng liên quan đến dầu đậu nành, dầu hướng dương và dầu hạt cải – chỉ số phụ dầu thực vật đã vượt qua năm 2019 đạt mức trung bình thấp nhất kể từ năm 2007.

Chỉ số giá đường tăng 4,8% so với tháng 11/2019. Sự tăng giá một phần được thúc đẩy bởi giá dầu thô tăng, khuyến khích các nhà máy đường ở Braxin ép nhiều mía hơn để sản xuất ethanol, dẫn đến nguồn cung mía giảm trên thị trường toàn cầu.

Chỉ số giá sữa tăng 3,3% trong tháng 12/2019, dẫn đầu là giá pho mát, tăng gần 8% trong bối cảnh nguồn cung xuất khẩu từ EU và Châu Đại dương hạn chế.

Chỉ số giá ngũ cốc tăng 1,4%, chủ yếu do giá lúa mỳ tăng nhờ nhu cầu nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc và các vấn đề về giao nhận ở Pháp do các cuộc biểu tình vẫn tiếp diễn ở nước này. Tuy nhiên, giá ngô và gạo vẫn gần như ổn định.

Chỉ số giá thịt đạt trung bình 191,6 điểm trong tháng 12/2019, không đổi so với tháng 11/2019. Chỉ số phụ kết thúc năm ở mức cao hơn 18% so với tháng 12/2018, chủ yếu do giá thịt lợn tăng khi nhu cầu nhập khẩu mạnh từ châu Á và nhu cầu nội địa trước kỳ lễ hội ở EU và Braxin.

(MH-Theo FAO)

https://www.mard.gov.vn/Pages/fao-gia-luong-thuc-the-gioi-tiep-tuc-tang-trong-thang-12-2019.aspx

Phát triển nông nghiệp đô thị: Hướng đi bền vững cho các đô thị trong tiến trình đô thị hoá

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của nước ta hiện nay, đô thị hóa là một quá trình tất yếu khách quan. Đô thị hóa trong điều kiện tiền công nghiệp hóa ít gắn với các yếu tố nội tại làm động lực cho kinh tế đô thị đã làm trầm trọng thêm các khó khăn lớn của các đô thị như: Một bộ phận lao động trong nông nghiệp mất đất sản xuất, trở nên thiếu công ăn việc làm; một bộ phận dân cư từ nông thôn chuyển về đô thị để làm việc, làm gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm, vấn đề vệ sinh môi trường đô thị cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng; sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước là điều không thể tránh khỏi… Đây là các yếu tố đe dọa sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị hiện nay. Trong rất nhiều các giải pháp thì phát triển nông nghiệp đô thị được xem như một hướng đi tối ưu có tính khả thi cao để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến trình đô thị hoá, hướng tới xây dựng các đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.

1. Sự phổ biến của nông nghiệp sinh thái đô thị tại một số quốc gia trên Thế Giới.
Từ cuối thế kỷ XX, nông nghiệp đô thị đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở các quốc gia. Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO), năm 2008 “gần 1/3 lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là từ nông nghiệp đô thị, 25 – 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình nông nghiệp đô thị” (Báo cáo của FAO: Tổng quan tình hình lương thực thế giới 2008.) Rất nhiều đô thị nổi tiếng trên thế giới phát triển mạnh về nông nghiệp đô thị. Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị, ở Dactxalam là 68%, Maputo 37%,… Tại Béclin (Đức), có 8 vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân ở Niu Oóc (Hoa Kỳ) có vườn trồng rau trên sân thượng. Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu…, nông nghiệp đô thị, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt trứng của người dân. Theo Tổ chức Làm vườn quốc gia Hoa Kỳ, năm 2007, người dân Hoa Kỳ chi khoảng 1,4 tỷ USD cho việc trồng cây rau, quả tại nhà, tăng 25% so với năm 2006.

Một số quốc gia điển hình về phát triển nông nghiệp đô thị hiện nay. Tại Cu Ba phát triển mạnh mẽ nông nghiệp đô thị để cung ứng thực phẩm tươi sống tại chỗ cho cư dân đô thị, nhờ đó thủ đô Lahabana đã tự túc được đến 90% loại thực phẩm này. Năm 2008 có hơn 20 vạn thị dân Cu Ba làm việc trong ngành nông nghiệp đô thị sử dụng 140 km2 đất đô thị. Chương trình nông nghiệp đô thị của Cuba là một thành công ấn tượng. Các nông trại, trong đó nhiều nông trại nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau cho Cuba. Các nông trại này cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cuba với lương khá cao và làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen với chế độ ăn có gạo và đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu. Theo tổ chức FAO, ngày nay, người Cuba nạp vào cơ thể khoảng 3.547 calo/ngày – hơn cả lượng calo mà chính phủ Mỹ khuyến cáo công dân Mỹ. GS Catherine Murphy, một nhà xã hội học đã có hàng chục năm nghiên cứu về các nông trại ở Lahabana nhận xét: “Đây là một mô hình thú vị nếu xét rằng Cuba là quốc gia có gần 80% dân số sống ở đô thị. Điều này chứng tỏ các thành phố có thể tự sản xuất lương thực mà vẫn đảm bảo các lợi ích xã hội và môi trường”. Tại Cai Rô (Ai Cập) đầu thập kỷ 1990, một nhóm giáo sư nông nghiệp Trường Đại học Ain Shams phát triển phương pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị đông dân, mới đầu với quy mô nhỏ nhưng rồi được mở rộng nhanh sau khi có hậu thuẫn chính thức của Tổ chức Lương Nông (FAO) vào năm 2001. Tại Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất thế giới, 48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông người nghèo, Tiến sĩ Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ trên ban công, thậm chí treo trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong túi nhựa hay trong các loại hộp, ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu nhập. Theo cách thức của ông, hộ gia đình có thể tự túc được 5kg rau quả mỗi ngày trong 300 ngày của năm. Ở Trung Quốc Nông nghiệp đô thị đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích nghi của các thành phố, giải quyết rất tốt các vấn đề do đô thị hóa quá nhanh gây ra cho các đô thị. Điều này sẽ được chứng minh qua ví dụ ở thủ đô Bắc Kinh và thành phố Thượng Hải. Nông nghiệp ven đô đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn lương thực sạch cho những người dân ở thủ đô Bắc Kinh. Trong năm 2010, tỷ lệ rau cung cấp cho thành phố Bắc Kinh là 55% và Thượng Hải là 50%. Do khoảng cách vận chuyển ngắn cũng làm giảm chi phí sản xuất lương thực. Giá rau được vận chuyển đến Bắc Kinh từ khu vực phía Nam Trung Quốc là cao do giá dầu cao. Đồng thời, giảm vận chuyển sẽ làm giảm phát thải CO2. Khi có thảm họa, việc tự cung cấp lương thực sạch rất quan trọng. Những không gian mở ở đô thị như đất nông nghiệp có thể được sử dụng làm nơi cấp cứu như điểm định cư tạm thời. Năm 2003, dịch SARS ở Bắc Kinh, các bệnh viện được đặt tạm thời tại những vùng ven đô, nơi mà các bệnh nhân được cung cấp thực phẩm sạch và an toàn. Năm 2008, sau thảm họa động đất ở Tứ Xuyên, hầu hết các lều tạm được dựng lên trong phạm vi rộng ở những khu đất nông nghiệp ven đô. Các sản phẩm từ nấm được sản xuất ở quận Fangshan, Bắc Kinh chiếm 56% tổng sản lượng nấm của thành phố. Quá trình sản xuất gồm tái chế chất thải nông nghiệp và đem lại lợi nhuận cho những người nông dân. Năm 2007, ở làng Miaoergang, lợi nhuận thu được từ sản xuất nấm trong một năm là 10,44 triệu nhân dân tệ và thu nhập trên đầu người ở quận đạt 10 595 nhân dân tệ, tương đương 1552 USD, trong khi thu nhập trung bình hàng năm theo đầu người ở khu vực ngoại ô Bắc Kinh là 9559 nhân dân tệ, tương đương 1400 USD.Trong năm 2005, có khoảng 3,6 triệu người dân di cư ở Bắc Kinh. Trong số những người dân này, hơn 600000 (17%) người được tham gia vào các hoạt động liên quan đến nông nghiệp đô thị. Các công việc này đã thu hút nhiều những dân di cư, họ là những nông dân có kinh nghiệm và bằng việc sử dụng các kỹ thuật tiên tiến như nhà kính, họ có thể kiếm nhiều tiền hơn, góp phần nâng cao thu nhập cho gia đình của họ ở nông thôn. Ở thị trấn Manzu thuộc quận Huairou, phụ nữ thường trồng dâu tây, rau, nấm và các hoạt động du lịch nông nghiệp, tất cả được làm ở gần nhà, vì vậy họ có thể kết hợp làm những công việc khác, phụ nữ ở Manzu mỗi năm kiếm được 7000 nhân dân tệ, tương đương với 1025 USD.

Giải thích cho xu hướng phát triển của nông nghiệp đô thị, Giáo sư, Tiến sỹ Mangstl, người phụ trách chiến lược thông tin và an toàn thực phẩm toàn cầu trên tạp chí nông nghiệp của FAO (http://www.fao.org/docrep/013/i2050e/i2050e00.htm) cho rằng, “giá cả lương thực tăng tạo ra những sự thay đổi trong cách tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, việc phát triển nông nghiệp đô thị là chìa khóa mở ra con đường phát triển bền vững thực chất cho các đô thị sinh thái trong tương lai …là yếu tố chính thúc đẩy mô hình nông nghiệp đô thị phát triển”. Từ các thực tế rất thiết thực đó có thể khẳng định phát triển nông nghiệp đô thị, nhất là nông nghiệp ven đô có vai trò rất quan trọng trong việc tham gia giải quyết các vấn đề khó khăn của các đô thị trong quá trình đô thị hóa. Đây là một hướng đi quan trọng cho các đô thị tại Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên hiện nay và trong tương lai.

2. Vai trò của Nông nghiệp đô thị với chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế-xã hội đáng ghi nhận của quá trình đô thị hóa đã làm thay đổi diện mạo của khu vực đô thị, góp phần nâng cao mức sống của một số bộ phận dân cư, thì đô thị hóa cũng làm nảy sinh nhiều nhiều vấn đề phức tạp cần sớm được giải quyết như: vấn đề di dân nông thôn ra thành thị; tình trạng thất học, thất nghiệp và phân hoá giàu nghèo; vấn đề nhà ở và quản lý trật tự an toàn xã hội ở đô thị; vấn đề hệ thống cơ sở hạ tầng quá tải và ô nhiễm môi trường; vấn đề an toàn về lương thực, thực phẩm, vấn đề cảnh quan đô thị…Một thực tế hiện nay của quá trình đô thị hóa ở nước ta là  diễn ra trên diện rộng nhưng các yếu tố kinh tế đô thị làm động lực cho đô thị hóa thì còn nhiều khó khăn chỉ chú trọng đô thị hóa theo chiều rộng mà ít dựa vào động lực nội tại – chiều sâu. Đô thị hóa trong điều kiện nền tảng như vậy càng làm cho các khó khăn nội tại như trên của các đô thị thêm phần căng thẳng và khó khăn trong việc tìm ra các giải pháp khắc phục. Dựa trên những ưu thế nổi bật trong việc phân tích vai trò của nông nghiệp đô thị cùng với việc tìm hiểu, đúc rút kinh nghiệm nhiều đô thị trên Thế Giới đã áp dụng chúng tôi nhận thấy phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một động lực nội tại rất quan trọng cho sự phát triển nhanh và bền vững của các đô thị của Việt Nam hiện nay.

Về khái niệm nông nghiệp đô thị, đã có nhiều tổ chức, các nhà nghiên cứu, quy hoạch đề cập đến trên nhiều góc độ khác nhau, chung quy lại có thể hiểu nông nghiệp đô thị là quá trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm  phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng môi trường. Quá trình đó được diễn ra ở các vùng xen kẽ hoặc tập trung ở đô thị bao gồm nội đô, giáp ranh và ngoại ô.
Vai trò của Nông nghiệp đô thị thể hiện qua những ưu điểm nổi bật sau:
– Nông nghiệp đô thị góp phần cung ứng nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống tại chỗ cho các đô thị. An ninh lương thực và an toàn vệ sinh thực phẩm là vấn đề đã và đang rất được quan tâm hiện nay tại các đô thị, đặc biệt là những người có thu nhập thấp tại các đô thị của các nước đang phát triển như nước ta. Có vẻ là nghịch lý nếu đưa ra nhận định này nhưng trên thực tế lại là rất khách quan. Quy mô dân số đô thị không ngừng gia tăng trong quá trình đô thị hóa, quá trình này cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ven đô vào tình thế mất tư liệu sản xuất chính và vấn đề gia tăng các hộ khó khăn, hộ thu nhập thấp ở khu vực đô thị càng ngày càng khó kiểm soát. Bản thân nguồn cung lương thực thực phẩm chất lượng cao với giá đắt đỏ chỉ hướng đến các hộ thu nhập cao vì vậy nguy cơ thiếu hụt nguồn lương thực cơ bản đáp ứng cho các hộ khó khăn ngày càng trở nên hiện hữu. Vì vậy phát triển nông nghiệp đô thị là cứu cánh duy nhất cho vấn đề này. Người dân nông thôn có thể tự sản xuất được các nhu cầu lương thực, thực phẩm để đáp ứng nhu cầu trong ngày còn người dân nghèo đô thị thì không thể mua được lương thực thực phẩm nếu không có tiền. Do vậy nguy cơ thiếu lương thực, dinh dưỡng ở người dân thành thị lớn hơn so với nông thôn, nhất là trong điều kiện giá cả các mặt hàng thiết yếu gia tăng mạnh như hiện nay. Trong điều kiện hiện nay, khái niệm nghèo đói không chỉ dành riêng cho khu vực vùng núi, vùng sâu vùng xa mà hiện hữu ngay tại các vùng ven đô thị, và đây là vấn đề chung, khách quan trong tiến trình đô thị hóa. Để đảm bảo phát triển bền vững, giảm khoảng cách quá xa trong nhu cầu dinh dưỡng thiết yếu của người dân đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị thực sự là một giải pháp quan trọng hiện nay. Nếu tổ chức tốt việc sản xuất được quy hoạch hợp lý, nông nghiệp đô thị có thể tạo ra nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống và an toàn, tại chỗ góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cư dân đô thị.
– Nông nghiệp đô thị tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư ở đô thị. Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của các đô thị mà vấn đề thu hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô diễn ra phổ biến. Người dân mất tư liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có trình độ, vốn hạn chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp rất thấp vì vậy vấn đề việc làm cho người lao động, nhất là những gia đình ven đô càng trở nên cấp thiết. Những người đàn ông có thể làm các nghề tạm để kiếm sống nhưng trong gia đình phụ nữ, người già và trẻ em sẽ làm được gì? Bên cạnh đó, làn sóng di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị để tìm kiếm việc làm cũng gia tăng nhanh chóng. Trong vấn đề này với Nông nghiệp đô thị, nếu được quan tâm và có quy hoạch, có chiến lược phù hợp để tận dụng quỹ đất đô thị và sức lao động dôi dư để góp phần quan trọng vào việc giải quyết bài toán việc làm và thu nhập trong tiến trình đô thị hóa.

– Nông nghiệp đô thị dễ tiếp cận các dịch vụ đô thị.

Trong điều kiện quỹ đất đô thị và vùng ven bị hạn chế, việc áp dụng công nghệ mới vào sản xuất nông nghiệp để tăng sản lượng cây trồng vật nuôi là vấn đề mang tính tất yếu và cấp bách. Trong khi một bộ phận khá lớn nông dân ở khu vực nông thôn chưa có điều kiện tiếp cận với các dịch vụ khoa học và công nghệ, còn tổ chức sản xuất sản xuất nông nghiệp theo lối quảng canh, truyền thống thì nông nghiệp đô thị có rất nhiều thuận lợi trong việc vận dụng những dịch vụ khoa học, công nghệ vào sản xuất. Bên cạnh đó, nông nghiệp đô thị còn có khả năng phát triển theo các mô hình chuyên biệt để cung ứng nhiều dịch vụ cho đô thị như cung cấp cây xanh, hoa tươi và thực phẩm cho khách sạn, cung ứng dịch vụ du lịch, dịch vụ an dưỡng,…

– Nông nghiệp đô thị góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp đô thị có thể tái sử dụng chất thải đô thị để làm phân bón, nước tưới,…cho sản xuất nông nghiệp, góp phần quan trọng việc làm giảm ô nhiễm môi trường. Chất thải đô thị đang thực sự tạo thành áp lực ngày càng tăng cùng với sự gia tăng dân số ở đô thị. Bằng công nghệ xử lý thích hợp, có thể tận dụng một phần nguồn chất thải đô thị phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất sạch, an toàn và hiệu quả. Điều này thật sự có ý nghĩa trong việc cải thiện môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nông nghiệp là ngành sản xuất yếu cầu một lượng nước rất lớn tuy nhiên với nông nghiệp đô thị bằng cách tái sử dụng nguồn nước thải nó có thể cải thiện công tác quản lý tài nguyên nước hướng tới mục tiêu phát triển bền vững cho các đô thị.

Tại các đô thị, tình trạng đất đai bị bẩn hóa, suy thoái, thiếu màu mỡ cũng được quan tâm không kém so với việc ô nhiễm và thiếu nguồn nước. Phần lớn đất đai kém phì nhiêu, bị nhiễm bẩn do các hóa chất công nghiệp, do bị ảnh hưởng bởi hoạt động xây dựng…Một trong những nhiệm vụ quan trọng của nông nghiệp đô thị là tái tạo chất dinh dưỡng cho đất thông qua tái sử dụng các chất thải hữu cơ từ các hoạt động của đô thị. Điều này vừa góp phần giảm ô nhiễm môi trường cho các đô thị vừa giảm các hóa chất khi đưa phân bón hóa học vào đất dễ gây ô nhiễm thêm lại vừa giảm được chi phí mua phân bón. Nông nghiệp đô thị được sản xuất tại chỗ ven các đô thị nên sau thu hoạch, chi phí đóng gói, vận chuyển và bảo quản bằng kho lạnh được bỏ qua nên góp phần giảm giá thành đến mức tối đa. Chất lượng các sản phẩm được đảm bảo an toàn đồng thời góp phần giảm lượng xe cộ trọng tải lớn vào ra các đô thị, giảm tai nạn và ô nhiễm đáng kể cho khu vực đô thị.
– Nông nghiệp đô thị góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức khỏe cộng đồng. Phát triển “đô thị sinh thái” hay “đô thị xanh” là những cụm từ đang trở nên phổ biến tại các diễn đàn về phát triển đô thị hiện nay. Mục tiêu hướng tới là quy hoạch và xây dựng các đô thị có môi trường và cảnh quan thân thiện với thiên nhiên, đảm bảo các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng. Đối với mục tiêu này trong tiến trình đô thị hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô hị thực sự là một giải pháp hiệu quả nhất. Ngoài các ý nghĩa như trên, nông nghiệp đô thị sẽ tạo ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị ( Cây xanh, công viên, mảng xanh trên các ban công, hay các vành đai xanh bao quanh ven đô… là những hình thức và sản phẩm của nông nghiệp đô thị). Sản xuất nông nghiệp đô thị môt mặt vừa đảm bảo các nu cầu về dinh dưỡng, mặt khác nó cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cư dân đô thị.

3. Kết luận

“Đô thị hóa là một quá trình tất yếu, không thể không xẩy ra, dù muốn hay không muốn tương lai của thế giới vẫn nằm ở các thành phố”. Đó là kết luận của hội nghị thượng đỉnh thế giới về đô thị do Liên Hợp Quốc tổ chức tại Ixtambul (Thổ Nhĩ Kỳ). Thực tế tốc độ đô thị hóa của nước ta nói chung đang diễn ra ngày càng nhanh về cả quy mô và số lượng. Đô thị hóa nhanh trong điều kiện hiện nay của nước ta thực sự làm nảy sinh nhiều bất cập. Phát triển nông nghiệp đô thị được xem là giải pháp tối ưu để giải quyết các bất cập này. Mặc dù chỉ mới phát triển mạnh từ những năm 70 của thể kỉ XX trở lại đây song nông nghiệp đô thị đã góp phần rất lớn trong chiến lược phát triển bền vững của các đô thị trên thế giới. Ở nước ta nhìn chung nông nghiệp đô thị đã hiện diện song còn ở dạng manh mún, phần lớn là sự sáng tạo của người dân. Mặc dù phạm vi hoạt động chưa rộng, mức độ phát triển chưa cao, chưa toàn diện nhưng hiệu quả kinh tế – xã hội – môi trường của nông nghiệp đô thị đã được chứng minh ở nhiều thành phố thuộc nhiều nước phát triển và đang phát triển trên thế giới. Hi vọng nông nghiệp đô thị sẽ là giải pháp và là hướng đi chiến lược cho sự phát triển nhanh, bền vững của các đô thị trong tiến trình đô thị hóa hiện nay của nước ta.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Ngọc Tuấn (chủ biên), Những vấn đề kinh tế – xã hội và môi trường vùng ven các đô thị lớn trong quá trình phát triển bền vững, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003
  2. Trịnh Duy Luân , Xã hội học đô thị, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2004
  3. E.Stighz Joseph, Kinh tế học cộng đồng, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1995
    4.  Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Đô thị hoá và khả năng chịu đựng ở Châu Á, NXB Thống kê, Hà Nội  2001.
  4. Dionys Forster. Module 1, Introduction intu Urban Agriculture, Duebendof, January 23, 2002
  5. Luc J.A. Mougeot. Growing better Cities.Urban Agriculture for sustainable development. International Development Research Centre 2006                                                                                               

Th.S Võ Hữu Hòa
Trường Đại học Duy Tân

Nông nghiệp hữu cơ: Hướng làm giàu cho các nông hộ

(Chinhphu.vn) – Dù chưa có doanh nghiệp (DN) đầu tư quy mô lớn, nhưng Hà Nội có hướng đi riêng trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Theo Sở NN&PTNT Hà Nội ước tính, các DN đầu tư công nghệ phát triển trang trại hiệu quả nên mức thu nhập bình quân diện tích canh tác ở Hà Nội đạt xấp xỉ 250 triệu đồng/ha

Nhu cầu lớn

Theo số liệu thống kê của Bộ NN&PTNT, đến nay, cả nước đã có 33 tỉnh/63 tỉnh thành cả nước đã có mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tốc độ tăng trưởng nhanh cả về quy mô, sản lượng, giá trị và chủng loại sản phẩm. Diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam năm 2015 đạt trên 70.000 ha, tăng 3,6 lần so với năm 2010, tập trung tại một số tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hòa Bình, Lào Cai, Hà Giang, Hà Nam, Lâm Đồng, Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa – Vũng Tàu, Quảng Nam…

Điều này có thể thấy nhu cầu về các sản phẩm hữu cơ trong nông nghiệp ngày một tăng cao trong cả nước. Đặc biệt trên địa bàn thủ đô Hà Nội – nơi có dân trí cao và người dân thường xuyên được tiếp cận với thông tin về chất lượng, quản lý chất lượng thực phẩm sạch thì nhu cầu ngày một lớn.

Dạo qua các các chuỗi cửa hàng thực phẩm sạch trên bất kỳ con phố nào của Hà Nội cũng có thể bắt gặp hình ảnh các bà nội trợ ngoài việc xem thực phẩm bằng cảm quan có tươi ngon không còn để ý rõ hơn về nhãn mác truy xuất nguồn gốc và so sánh thực phẩm được sử dụng bao nhiêu % hàm lượng hữu cơ khi sản xuất. Tại cửa hàng Sói Biển, 24 Nguyễn Thị Định, Hà Nội, bác Nguyễn Thu Trang đang tìm mua các sản phẩm rau hữu cơ cho biết: “Tôi đã về hưu và đảm nhận việc nấu nướng cho cả nhà, con cháu đi học đi làm chỉ ăn một bữa tối ở nhà nên tôi cố gắng chọn các thực phẩm tươi ngon bổ dưỡng nhất cho các cháu. Tôi thường xuyên lựa chọn các sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ để giảm thiểu các tác động xấu ví dụ như dư lượng thuốc bảo vệ thực vật…”

Sử dụng sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thực sự đã trở thành trào lưu trong các bà nội trợ. Cũng chính vì vậy, theo đánh giá của Sở NN&PTNT Hà Nội, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là hướng phát triển bền vững mà ngành nông nghiệp Hà Nội đang thực hiện nhằm tạo sản phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dùng cũng như góp phần bảo vệ môi trường.

Hiện nay, phong trào nông nghiệp hữu cơ đã hình thành và phát triển trên địa bàn Hà Nội, bước đầu đã đạt được những thành công nhất định, là minh chứng cho khả năng phát triển nông nghiệp hữu cơ. Có thể kể đến như trang trại chăn nuôi Bảo Châu (50 tấn thịt lợn/năm), trang trại Hoa Viên (150 tấn rau củ quả/năm), hợp tác xã lúa gạo xã Đồng Phú, huyện Chương Mỹ (170 tấn gạo/năm)… Theo Sở NN&PTNT Hà Nội, thành phố có nhu cầu tiêu thụ nông sản rất lớn, với sức tiêu thụ hàng ngày vào khoảng 800 – 1.000 tấn thịt các loại, 2.500-3.000 tấn rau quả, 350 – 400 tấn thủy sản tươi sống và chế biến. Đồng thời, người tiêu dùng quan tâm nhất tới an toàn thực phẩm, từ đó trở thành thị trường rất lớn đối với nông nghiệp hữu cơ.

Chính vì vậy, Hà Nội đã có nhiều chính sách khuyến khích DN và người dân tham gia sản xuất. Mô hình này không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao, mà còn góp phần quan trọng bảo vệ môi trường, nuôi dưỡng đất và đặc biệt là an toàn cho sức khỏe cộng đồng, hạn chế tối đa việc sử dụng các loại hóa chất độc hại trong canh tác.

Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết, Hà Nội có nhiều lợi thế để phát triển sản phẩm hữu cơ, có thị trường tiêu thụ sản phẩm cao, đất đai phù hợp cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở các huyện như Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ… Thời gian qua, Sở đã tích cực triển khai các mô hình rau, lúa hữu cơ và ban hành 10 quy trình kỹ thuật về sản xuất rau hữu cơ cho một số loại rau chính, trên nguyên tắc không sử dụng chất hóa học tổng hợp, tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học, thuốc kích thích sinh trưởng, các vật liệu biến đổi gene…

Gỡ vướng cho nông nghiệp sạch

Để phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 196 /KH-UBND về nâng cao năng lực chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2019-2020. Theo đó Hà Nội sẽ xây dựng 5-10 mô hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ với quy trình kỹ thuật tiên tiến, có kiểm soát chặt chẽ, tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn theo quy định, sản phẩm sản xuất ra được cấp giấy chứng nhận theo quy định quốc gia và quốc tế về nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp hữu cơ, quản lý chặt chẽ vật tư đầu vào sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản sản phẩm, thành phố cũng xây dựng, trình duyệt cơ chế chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn. Đồng thời tăng cường quản lý chặt chẽ các quy hoạch, kế hoạch liên quan phát triển sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ.

Tổ chức thực hiện tốt các cơ chế chính sách của Trung ương, thành phố về khuyến khích phát triển sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản; quản lý chặt chẽ việc sản xuất, buôn bán, vận chuyển vật tư nông nghiệp, thuốc bảo vệ thực vật theo quy định; phát triển sản xuất gắn phát triển liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nhằm tăng hiệu quả đầu tư, cạnh tranh thị trường trong nước và quốc tế…

Chính sách phát triển nông nghiệp hữu cơ không chỉ một mình Hà Nội đang nỗ lực phát triển. Thực tế, Việt Nam là đất nước có diện tích canh tác trên đầu người thuộc loại thấp nhất trên thế giới, dân số tăng nhanh, do vậy mục tiêu của đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp là phát triển một nền nông nghiệp bền vững và thân thiện môi trường, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp, trong đó có nông nghiệp hữu cơ. Khuyến khích sản xuất các sản phẩm hữu cơ đạt tiêu chuẩn và có chứng nhận.

Trên cơ sở điều kiện thổ nhưỡng xác định, lựa chọn chính xác chủng loại sản phẩm, quy mô và vùng sản xuất sản phẩm thích hợp với nhu cầu của từng thị trường để khai thác lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, xã hội, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, tập trung sản xuất sản phẩm hữu cơ với các loại bản địa, gắn với nông nghiệp du lịch, sinh thái. Tập trung đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có khuyến khích sử dụng tối đa các yếu tố hữu cơ.

Tại Quyết định số 06- NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành trung ương Đảng khóa XII ngày 05/11/2016 cũng nêu rõ: “Tập trung phát triển ngành nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường, nông nghiệp hữu cơ; có năng suất cao, có giá trị lớn và có khả năng xuất khẩu phù hợp với biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái”.

Tại quyết định số 1600/QĐ- TTG ngày 16/8/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới: “Trung ương đặc biệt nhấn mạnh, nền nông nghiệp nhiệt đới với nhiều tiềm năng hướng tới một nền nông nghiệp cao, nông nghiệp sinh thái bền vững, hiệu quả, phát triển chuỗi nông sản thực phẩm sạch, an toàn và nông sản thực phẩm hữu cơ phục vụ đời sống nhân dân và xuất khẩu”.

Như vậy, sản xuất nông nghiệp hữu cơ là xu thế tất yếu tại Việt Nam và được Đảng và Nhà nước cũng chỉ rõ ra hai vấn đề cần giải quyết: Sản xuất sản phẩm hữu cơ đạt tiêu chuẩn và phát triển chứng nhận sản phẩm hữu cơ.

Đến nay, toàn thành phố Hà Nội đã duy trì 5.044ha trồng rau an toàn, có 119ha trồng rau trong nhà lưới; 306,5ha trồng chè ứng dụng công nghệ cao; 154 cánh đồng mẫu lớn trồng lúa chất lượng cao với quy mô 100ha tại 86 hợp tác xã của 14 huyện. Thành phố cũng xây dựng được 4 nhãn hiệu tập thể lúa chất lượng cao: Gạo Bồ Nâu, nếp cái hoa vàng Sóc Sơn và Đông Anh, gạo thơm Bối Khê. Có 12 nhãn hiệu tập thể với hàng nghìn héc ta trồng cây ăn quả như: Bưởi tôm vàng Đan Phượng, bưởi đường Quế Dương, cam Canh Kim An, bưởi Phúc Thọ, phật thủ Đắc Sở…

Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh cho rằng: Nông nghiệp Hà Nội đóng vai trò quan trọng của Thủ đô và cả nước, có diện tích lúa đứng thứ hai miền Bắc. Các lĩnh vực chăn nuôi hữu cơ, sản xuất rau an toàn, lúa gạo hữu cơ đều có mô hình thực tế, có nhiều sáng kiến hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, đi đầu trong tổ chức ứng dụng quy trình sản xuất an toàn, có thông điệp cụ thể như “6 không”, 10 quy trình… Thứ trưởng cũng khẳng định: “Bộ sẽ chỉ đạo các đơn vị liên quan tiếp tục tích cực phối hợp với Hà Nội, nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn trong phát triển nông nghiệp hữu cơ”.

An Khuê

Vết thương “Hữu cơ” giúp cải thiện chất lượng nông sản

Các nhà khoa học tại AgriLife Texas A&M đã tìm thấy lợi ích từ vết thương trên lá cây gây ra bởi côn trùng trong sản xuất rau quả. Phản ứng căng thẳng được tạo ra trong các loại trái cây và rau quả đã hình thành sự gia tăng các hợp chất chống oxy hóa trước khi thu hoạch, làm tăng chất lượng nông sản, đáp ứng nhu cầu của con người.

Tiến sĩ Luis Cisneros-Zevallos, tại trung tâm nghiên cứu AgriLife cho rằng “Nhiều nghiên cứu trong quá khứ ủng hộ ý tưởng này, nhưng nhiều nghiên cứu khác cho thấy không có sự khác biệt. Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh được rằng những chiếc lá cây bị thương giống như bị gây ra bởi côn trùng làm cho trái cây hữu cơ tốt khỏe hơn”.

Nghiên cứu được công bố có tiêu đề “Giải quyết tranh cãi về trái cây hữu cơ khỏe mạnh hơn: Vết thương trên lá kích hoạt phản ứng biểu hiện gen xa của quá trình sinh tổng hợp polyphenol trong quả dâu tây (Fragaria x ananassa)”. Nhóm nghiên cứu, có tính liên ngành cao, bao gồm tiến sĩ Woo Young Bang, nhà sinh vật học phân tử và tiến sĩ Leonardo Lombardini chuyên ngành làm vườn, là hai nhà khoa học của AgriLife Research.

Tiến sĩ Facundo Ibanez, một nhà nghiên cứu cho dự án liên kết với Viện nghiên cứu Nacional de Investigación Agropecuaria, Uruguay: “Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu sử dụng dâu tây làm cây mô hình và tạo vết thương trên lá cây vài ngày trước khi thu hoạch quả với các mức độ khác nhau. Chúng tôi đã tìm thấy một số gen liên quan đến quá trình di chuyển đường và quá trình sinh tổng hợp thành phần phenolic được biểu hiện quá mức trong quả dâu tây”.

Tất cả cây trồng đều có khả năng phản ứng với môi trường bằng cách kích hoạt quá trình trao đổi chất thứ cấp như là một phần của cơ chế bảo vệ hoặc là một phần của quá trình thích ứng. Nó cũng kích hoạt quá trình trao đổi chất cơ bản, giúp di chuyển nguồn carbon cần thiết để tạo ra các hợp chất chống oxy hóa đó, Cisneros-Zevallos giải thích.

Cisneros-Zevallos nói: “Có những ý tưởng hiện có được đề xuất bởi những người khác rằng côn trùng có mặt trên đồng ruộng trong canh tác hữu cơ có thể gây ra phản ứng căng thẳng trong cây trồng và làm tăng các hợp chất chống oxy hóa. Tuy nhiên, giả thuyết hoặc khái niệm này đến bây giờ vẫn chưa được kiểm tra”.

Ibanez cho biết nghiên cứu nhấn mạnh rằng nông sản tươi là một nguồn tuyệt vời của các hợp chất tăng cường sức khỏe và có lẽ côn trùng theo một cách nào đó có thể là đồng minh làm cho nông sản chất lượng hơn.

Ông nói “Sản phẩm phát triển khỏe hơn có thể là động lực cho ngành công nghiệp thực phẩm phát triển quy mô lớn và đầu tư hấp dẫn cho các bên liên quan”.

Nông nghiệp hữu cơ trong những năm gần đây đã trải qua sự tăng trưởng liên tục và nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao hơn  từ phía người tiêu dùng. Điều này đã có tác động tích cực trên quy mô lớn đối với ngành công nghiệp hữu cơ, nông dân và các ngành công nghiệp khác liên quan đến sản phẩm hữu cơ, Cisneros-Zevallos nói.

Sau nhiều nghiên cứu được công bố trước đây về tác động gây thương tích sau thu hoạch đối với các loại cây trồng khác nhau, nhóm nghiên cứu đã được truyền cảm hứng để áp dụng phương pháp này lên bề mặt lá cây, bắt chước sự tấn công của côn trùng trên cây trồng.

“Quan sát này là mấu chốt để chúng tôi thiết kế các chiến lược sẽ được sử dụng trong nghiên cứu, rằng sự căng thẳng vết thương đơn giản trên bề mặt lá đã gợi ra phản ứng mang tính hệ thống này với sự quan sát độc đáo về sự tích lũy các chất chống oxy hóa phenolic cao hơn trong trái cây”, Ibanez nói.

“Nhóm của chúng tôi đã làm sáng tỏ về một tranh cãi, đó là một câu hỏi mở trong nhiều năm”, Cisneros-Zevallos nói. “Hiểu cách các chất chống oxy hóa này được tạo ra bởi một căng thẳng đơn giản giống như vết thương, có thể làm thay đổi cách thức hoạt động của ngành công nghiệp sản phẩm tươi sống, bao gồm cả hữu cơ và thông thường. Và nó có thể cho phép ngành công nghiệp áp dụng các công cụ mới dựa trên căng thẳng trước thu hoạch để hỗ trợ tích lũy các chất chống oxy hóa lành mạnh hơn trong các sản phẩm tươi sống và thực phẩm chế biến”.

Nguyễn Bình Duy theo Phys.org

http://iasvn.org/homepage/Vet-thuong-%E2%80%9CHuu-co%E2%80%9D-giup-cai-thien-chat-luong-nong-san-12899.html