Phát triển nông nghiệp công nghệ cao vẫn gặp nhiều rào cản

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao vẫn gặp nhiều rào cản

10:23 | 23/12/2020  

Các doanh nghiệp muốn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao hay muốn ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp vẫn gặp phải không ít thách thức.

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới khoa học công nghệ được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm để nâng cao năng suất và giá trị gia tăng trong lĩnh vực nông nghiệp. Nông nghiệp công nghệ cao giúp nông dân chủ động trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.

Nhận thức được tầm quan trọng của nông nghiệp công nghệ cao, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 176/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020. Đến nay, cả nước có 3 khu nông nghiệp công nghệ cao được Chính phủ phê duyệt tại các tỉnh Hậu Giang, Phú Yên và Bạc Liêu, các khu nông nghiệp công nghệ cao còn lại do UBND tỉnh thành lập. Bên cạnh đó cũng đang trình Thủ tướng Chính phủ xem xét thành lập 3 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Thái Nguyên, Quảng Ninh và Lâm Đồng.

Đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao vẫn chưa đạt như kỳ vọng

Ông Hà Văn Thắng – Chủ tịch Hội đồng DN nông nghiệp cho biết, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã cho thấy hướng đi đúng trong sản xuất nông nghiệp những năm tiếp theo, góp phần đưa ngành nông nghiệp có bước phát triển vượt bậc. Đặc biệt trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 đang diễn ra mạnh mẽ, đổi mới khoa học công nghệ là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm trong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn hiện nay.Hiện có 46 DN được cấp giấy chứng nhận DN nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và 9 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được công nhận. Cùng với đó, gói tín dụng thương mại phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch đã thu hút hơn 16.800 DN tham gia với khoản đầu tư hơn 39 nghìn tỷ đồng.

Cùng quan điểm trên, ông Nguyễn Xuân Định – Phó Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam cho rằng, Việt Nam rất có tiềm năng trong phát triển hệ sinh thái nông nghiệp công nghệ cao. Tuy nhiên, trên thực tế việc áp dụng công nghệ cao trong phát triển nông nghiệp cũng chưa thực sự được đẩy mạnh triệt để.

Hiện tại, Việt Nam có đến 9 triệu hộ nông dân và về cơ bản dù các DN có lớn đến mấy thì lượng sản phẩm nông nghiệp trên thị trường đến nay vẫn là đến từ nông dân. Do đó, để phát triển liên kết nông nghiệp phát triển bền vững thì vai trò liên kết giữa DN và nông dân là quan trọng nhất trong 4 nhà hay 6 nhà. Theo ông Định, vấn đề cần giải quyết đó là thay đổi tư duy, không phải sản xuất quy mô lớn hay nhỏ, mà phải phù hợp với điều kiện của địa phương và người sản xuất, người đầu tư, từ đó mới có thể nghiên cứu được chính sách

Bên cạnh việc đầu tư công nghệ chế biến, chú trọng thị trường nội địa, ứng dụng công nghệ được xem là liều thuốc hiệu quả cho tương lai nông nghiệp Việt Nam. Nhưng trên thực tế, các DN muốn đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao hay muốn ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp vẫn gặp phải không ít thách thức. Đó là rào cản về vốn do nông nghiệp công nghệ cao cần nguồn vốn rất lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng, đầu tư sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, đào tạo nhân lực, tiêu thụ sản phẩm và nhất là nhập thiết bị. Thực tế cho thấy, để thành lập và phát triển trang trại chăn nuôi ở mức quy mô trung bình theo mô hình nông nghiệp công nghệ cao, chi phí gấp từ 4-5 lần so với xây dựng trang trại theo mô hình truyền thống; đầu tư một hecta nhà kính có đầy đủ hệ thống tưới nước, phun sương, bón phân tự động hóa theo công nghệ của Israel cần ít nhất từ 10-15 tỷ đồng; sử dụng thiết bị flycam để phun thuốc bảo vệ thực vật hiệu quả rất cao nhưng giá thành lên đến gần 10 nghìn USD.

Chia sẻ quan điểm trên, ông Trần Văn Tân – Tổng giám đốc CTCP xây dựng và thương mại Phong cách mới (Queen Farm) cho biết, cũng như các đơn vị đầu tư trong kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp khác, Queen Farm cũng gặp rất nhiều khó khăn như việc tiếp cận với các cơ chế chính sách của Nhà nước, đặc biệt là khó khăn về vốn. Để có được vốn ban đầu đầu tư mua lại đất nông nghiệp của người dân đã là một vấn đề nan giải, chưa kể đến vốn đầu tư các công trình hạng mục phục vụ cho sản xuất như nhà màng, nhà lưới… Bên cạnh đó, khó khăn của Queen Farm còn nằm ở vấn đề công nghệ, nhất là các công nghệ tiên tiến trên thế giới còn chưa phổ biến ở Việt Nam. Dẫn đến, DN phải tự liên hệ với các đối tác chuyển giao công nghệ ở nước ngoài như Nhật Bản, Bỉ, Đức… Khó khăn trong việc tích tụ ruộng đất cũng buộc chân DN. Việc người dân bỏ ruộng đất đang ngày càng phổ biến, tuy nhiên khi DN muốn tích tụ ruộng đất của người dân để xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao thì gặp phải rất nhiều vấn đề.

PGS. TS. Đào Thế Anh – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) cho biết, hiện Việt Nam đang nằm trong top 15 nhà xuất khẩu nông sản trên thế giới và đứng thứ 2 tại Đông Nam Á. Nhưng tổng vốn đầu tư của nhà nước cho nông nghiệp về công nghệ mới thì dường như đang bị giảm xuống.

Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ngành nông nghiệp tương đương 0,2% GDP nông nghiệp, trong khi đó ở Braxin là 1,8% và Trung Quốc là 0,5%. Mức độ phát triển như của Việt Nam thì việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ trong nông nghiệp lẽ ra nên ở mức 0,86% GDP nông nghiệp, tức là cần gấp 4 lần so với hiện nay. Ứng dụng công nghệ tăng giá trị sản xuất trở thành vấn đề sống còn đối với ngành nông nghiệp Việt Nam, PGS. TS. Đào Thế Anh chia sẻ thêm.

Ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng, để khoa học công nghệ thực sự thúc đẩy phát triển ngành nông nghiệp, trong thời gian tới, tiếp tục cần sự quan tâm của các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện chính sách khuyến khích, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cùng với đó cần sự đồng bộ trong toàn hệ thống để đưa các chính sách vào thực tiễn một cách thực sự để thực thi hiệu quả, góp phần đưa nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững.

Hải Yến

Vượt qua Thái Lan, Việt Nam vững ngôi đầu thế giới

Vượt qua Thái Lan, Việt Nam vững ngôi đầu thế giới

13/04/2021    05:54 GMT+7

Vượt qua đối thủ Thái Lan và Ấn Độ, gạo Việt giữ vững ngôi đầu thế giới về giá bán Trung bình quý 1/2021, giá gạo xuất khẩu bình quân đạt 547 USD/tấn, tăng tới 18,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Báo cáo của Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN-PTNT) về thông tin thị trường nông sản cho thấy, khối lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2021 đạt 1,1 triệu tấn với giá trị 606 triệu USD, giảm 30,4% về khối lượng và giảm 17,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2020.

Điều đáng chú ý, tháng 3/2021, giá xuất khẩu bình quân gạo Việt Nam đạt 547 USD/tấn, tăng 0,5% so với tháng 02/2021 và tăng 19,1% so với tháng 3/2020.

Còn tính bình quân trong quý 1 năm, giá xuất khẩu bình quân gạo đã tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 547 USSD/tấn.

Giá xuất khẩu gạo của Việt Nam đang cao hơn đối thủ Thái Lan và Ấn Độ

Theo Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản, nguyên nhân khiến gạo xuất khẩu được giá là do nhu cầu mua gạo Đông Xuân vụ mới từ Việt Nam của đối tác nước ngoài tăng cao.

Vớt mức giá trên, gạo Việt tiếp tục giữ vững ngôi đầu thế giới về giá bán. Giá gạo 5% của Ấn Độ dù đã tăng mạnh và dịp cuối tháng 3 vừa qua những vẫn chỉ đạt mức đã 401 USD/tấn. Gạo Ấn Độ đang có giá thấp nhất trong 3 nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới. Trong khi, giá gạo cùng loại của Thái Lan đạt mức 538 USD/tấn vào đầu tháng nhưng đã giảm xuống 509 USD/tấn vào cuối tháng 3.

Năm 2020, không chỉ nhiều lần vượt qua các đối thủ về giá bán, với khối lượng xuất khẩu đạt 6,15 triệu tấn, thu về 3,07 tỷ USD, Việt Nam chính thức vượt qua Thái Lan, trở thành cường quốc xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới, chỉ sau Ấn Độ.

Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, xuất khẩu gạo từ cuối tháng 3/2021 trở đi sẽ sôi động hơn khi nguồn cung lúa hàng hóa có mặt trên thị trường dồi dào và các doanh nghiệp đã hoàn tất chế biến gạo xuất khẩu.

T.A

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Đòn bẩy phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp sạch

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao: Đòn bẩy phát triển nông nghiệp số, nông nghiệp sạch

 04/01/2021

TP.HCM là địa phương đi đầu trong cả nước về phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thành phố chủ trương hướng đến một nền nông nghiệp công nghệ cao với quy mô sản xuất lớn, hiện đại. Tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị.

Hiệu quả ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp

Thời gian qua, TP.HCM đã hình thành và từng bước hoạt động có hiệu quả các Khu nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm công nghệ sinh học, Trại trình diễn và thực nghiệm chăn nuôi bò sữa công nghệ cao. Nhiều quy trình sản xuất công nghệ cao hiệu quả, đã được chuyển giao thành công cho bà con nông dân, doanh nghiệp và tổ chức trên địa bàn thành phố. Từ các mô hình trồng cây trong nhà màng, nhà kính, tưới và bón phân tự động bằng hệ thống tưới nhỏ giọt đến công nghệ vi sinh, công nghệ tế bào thực vật, sinh học phân tử ứng dụng. Đặc biệt là việc sử dụng chiếu xạ, hơi nóng xử lý trái cây sau thu hoạch.

Trung tâm nghiên cứu và phát triển nông nghiệp công nghệ cao (thuộc Ban quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao) đã nghiên cứu, xây dựng thành công nhiều quy trình canh tác rau ăn lá, rau ăn trái trồng trên giá thể trong điều kiện nhà màng áp dụng tưới nhỏ giọt.

Ngoài ra, thành phố còn phối hợp cùng các trường đại học, trung tâm nghiên cứu khoa học, các công ty ở các nước có nền nông nghiệp công nghệ cao như Nhật, Hàn Quốc, Israel, Bỉ… trong công tác tập huấn, chuyển giao, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, tham quan học tập kinh nghiệm mô hình nông nghiệp công nghệ cao quốc tế.

Sản phẩm nông nghiệp ứng dụng khoa học công nghệ được TP.HCM chú trọng phát triển trong thời gian qua.

Hiệu quả từ việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp được thể hiện rõ, qua việc thu nhập của người dân các huyện ngoại thành gia tăng. Năm 2019, giá trị sản xuất bình quân trên 1ha đất sản xuất nông nghiệp ước đạt 550 triệu đồng/ha/năm, gấp 1,5 lần năm 2015. Tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016 – 2020 là hơn 5,8%/năm. Thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình tại các xã năm 2019 đạt 63 triệu đồng/người, tăng gần 59% so với năm 2015.

Trong giai đoạn 2020 – 2025, TP.HCM sẽ tập trung vào phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp đô thị. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, tập trung nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giống cây, giống con chất lượng và năng suất cao, từng bước hình thành trung tâm giống cây, giống con của khu vực.

Tập trung phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực để tận dụng tốt cơ hội của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Đồng thời, tiếp tục thực hiện hiệu quả, xây dựng bộ tiêu chí nông thôn mới phù hợp với quá trình đô thị hóa của vùng nông thôn thành phố. Phát triển nông thôn mới lên đô thị nông nghiệp công nghệ cao.

Tiếp tục lấy nông nghiệp công nghệ cao làm đòn bẩy

Theo Sở NN&PTNT TP.HCM, để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, thành phố cũng có nhiều chính sách hỗ trợ thiết thực cho người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Nhờ đó, bà con nông dân đã mạnh dạn đầu tư, ứng dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất, góp phần giảm sức lao động, tăng năng suất và chất lượng nông sản.

Được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, các đơn vị nghiên cứu nông nghiệp về ứng dụng kỹ thuật ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất các giống lan, năm 2015 hợp tác xã (HTX) hoa lan Huyền Thoại (huyện Củ Chi) được thành lập. Từ 5 ha ban đầu, đến nay HTX đã có 21 ha với khoảng 800 nghìn gốc lan Mokara và hơn 20.000 gốc lan Denrobium.

Chương trình xây dựng nông thôn góp phần giúp người dân gắn bó với nông nghiệp TP.HCM có thu nhập cao.

Theo bà Đặng Lệ Thị Thanh Huyền, thành viên HTX hoa lan Huyền Thoại, liên kết và ứng dụng công nghệ cao vào trồng các loại lan đã mang lại nhiều lợi ích cho các thành viên, năng suất tăng gấp nhiều lần so với phương pháp truyền thống. Các xã viên có sự gắn kết, cùng quyết tâm phát triển HTX theo hướng cánh đồng mẫu lớn, áp dụng công nghệ cao gắn với mục tiêu xuất khẩu. Sản phẩm hoa lan được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu sang Nhật Bản, Cam-pu-chia… doanh thu mỗi năm hàng chục tỷ đồng.

Tương tự, nhờ ứng dụng kỹ thuật công nghệ cao vào sản xuất, đến nay HTX Nông nghiệp thương mại – dịch vụ Phú Lộc, huyện Củ Chi canh tác hơn 80 ha với sản lượng bình quân đạt 5.400 tấn rau, củ theo tiêu chuẩn VietGAP các loại một năm. Do có số lượng rau lớn và an toàn vệ sinh thực phẩm, HTX được các siêu thị lớn trên địa bàn thành phố, như Co.opmart, Big C, Lotte, Satra, Safefoods… ký hợp đồng tiêu thụ ổn định. Ngoài ra, HTX còn liên kết sản xuất, tiêu thụ với các HTX, doanh nghiệp, người nông dân, tại các tỉnh Tiền Giang, Long An, Lâm Ðồng để đa dạng hóa sản phẩm cung cấp cho thị trường.

Ông Nguyễn Quốc Toản – Giám đốc HTX Nông nghiệp thương mại – dịch vụ Phú Lộc cho biết, để đáp ứng số lượng lớn rau, củ các loại cho hệ thống siêu thị trên địa bàn thành phố, 43 thành viên HTX thống nhất phải ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất theo chủ trương của TP.HCM. Ngoài ra, ngành nông nghiệp thành phố cũng hỗ trợ cho HTX bằng nhiều chương trình trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, như hỗ trợ vay vốn, tập huấn cho các xã viên làm chủ các công nghệ mới…

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT thành phố Nguyễn Xuân Hoàng cho biết, Sở tiếp tục đặt ra mục tiêu tiếp tục chuyển đổi mạnh đất trồng lúa, mía hiệu quả thấp sang các loại cây trồng, vật nuôi giá trị, hiệu quả cao, đồng thời, phát triển khoa học – công nghệ, nông nghiệp công nghệ cao gắn với đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho khu vực nông thôn.

Cùng với đó là phát triển sản xuất kết hợp du lịch sinh thái, bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Thành phố hiện đang tiếp tục đầu tư các hạng mục tại Trung tâm Công nghệ sinh học, mở rộng Khu Nông nghiệp công nghệ cao và tiếp tục ban hành các chương trình, cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp đô thị.

Ðây sẽ là nguồn lực tiếp tục hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, phát triển đúng định hướng của thành phố là tập trung vào phát triển sản xuất giống cây, giống con chất lượng cao.

Theo Chi cục Phát triển nông thôn TP.HCM, đối với doanh nghiệp khi được công nhận “doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao”, doanh nghiệp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như hỗ trợ vay vốn, tiếp cận quỹ đất, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực… Vì vậy, TP.HCM kỳ vọng thời gian tới sẽ có thêm nhiều doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vào trồng trọt, chăn nuôi và chế biến để cải thiện được năng lực cạnh tranh và nâng cao giá trị xuất khẩu.

Theo Doanh nghiệp Việt Nam

Link bài viết: https://doanhnghiepvn.vn/chuyen-doi-so/nong-nghiep-ung-dung-cong-nghe-cao-don-bay-phat-trien-nong-nghiep-so-nong-nghiep-sach/20210103110015290

Các địa phương đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

(Chinhphu.vn) – Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tạo ra những sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao được coi là xu hướng tất yếu giúp sản xuất nông nghiệp phát triển vượt bậc, hình thành nhóm sản phẩm nông sản chủ lực, lợi thế gắn với vùng sản xuất hàng hóa tập trung, qua đó làm thay đổi bức tranh nông nghiệp của các địa phương.

Ảnh minh họa

Mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững của thành phố Đà Nẵng là tập trung tăng trưởng sản xuất thông qua cải thiện năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ, ứng dụng công nghệ cao trong các hoạt động sản xuất nông nghiệp. Đây là xu hướng tất yếu phát triển nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Sản xuất nông nghiệp hướng đến sản phẩm chủ lực, đặc trưng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao và nông nghiệp phục vụ đô thị, du lịch là hướng đi mà thành phố đang lựa chọn. Với đặc thù của đô thị, quy mô diện tích đất sản xuất nông nghiệp hạn chế, thành phố đã định hướng phân vùng sản xuất nông nghiệp phù hợp, hiệu quả gắn với xây dựng sản phẩm chủ lực, đặc trưng dựa trên giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo hướng hữu cơ, sinh thái.

Đến nay, thành phố ưu tiên triển khai quy hoạch các vùng, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, ban hành chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tại huyện Hòa Vang hiện đã có 3 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được phê duyệt quy hoạch chi tiết, đang xúc tiến các thủ tục kêu gọi, thu hút doanh nghiệp đầu tư và tiếp tục quy hoạch, mở rộng phát triển các vùng, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với quy hoạch chung của thành phố.

Đối với lĩnh vực trồng trọt, Đà Nẵng đã chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng thâm canh, thích ứng với biến đổi khí hậu và đẩy mạnh sản xuất theo hướng hữu cơ. Nhờ chủ động trong chuyển đổi cơ cấu giống lúa trung ngắn ngày, đẩy mạnh sản xuất theo hướng hữu cơ, áp dụng chương trình quản lý dinh dưỡng tổng hợp (IPM), chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (ICM) nên năng suất lúa đạt khá cao, tăng dần qua các năm, đạt 58,29 tạ/ha năm 2015 lên đạt 61,6 tạ/ha vào năm 2020. Toàn thành phố thực hiện cải tạo 46,6ha kinh tế vườn với các loại cây trồng: mít, bơ, chanh giây, vú sữa, thanh long ruột đỏ… gắn với mô hình du lịch sinh thái nhà vườn.

Trong những năm tiếp theo, thành phố Đà Nẵng triển khai nhiều đề án, phương án đẩy mạnh phát triển sản xuất để nâng cao thu nhập; nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả; xây dựng các mô hình sản xuất mới, các mô hình ứng dụng công nghệ cao, thực hiện chương trình cải tạo vườn tạp xây dựng vườn mẫu, vườn kinh tế… góp phần phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập người nông dân, thúc đẩy kinh tế – xã hội thành phố

Là 1 trong 3 tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn nhất vùng đồng bằng sông Hồng, để phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp hàng hóa, nông nghiệp công nghệ cao, những năm qua, tỉnh Thái Bình đã tập trung xây dựng, hoàn thành quy hoạch các vùng sản xuất, chỉnh trang đồng ruộng và dồn điền đổi thửa ở toàn bộ các xã, thị trấn. Phong trào xây dựng cánh đồng lớn được chú trọng, đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, 100% khâu làm đất, trên 80% khâu thu hoạch được cơ giới hóa; xây dựng, phát triển nhiều cánh đồng lớn cùng nhiều trang trại, gia trại quy mô lớn, công nghệ hiện đại; năng suất lúa và năng suất các loại cây trồng đều đạt ở mức cao so với bình quân chung cả nước và các tỉnh trong khu vực, góp phần cải thiện đáng kể đời sống nhân dân.

Đề án cơ cấu lại ngành Nông nghiệp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của tỉnh Thái Bình xác định quan điểm, thu hút và phát triển doanh nghiệp là đột phá cho cơ cấu lại ngành và giải quyết lao động nông thôn, lấy doanh nghiệp là đầu tàu trong phát triển chuỗi giá trị. Để phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại, tỉnh đã ban hành nghị quyết về chính sách hỗ trợ đặc thù, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Trong đó, tập trung hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm, cơ sở sản xuất giống ngao sinh sản, đóng mới tàu, mua sắm máy nông nghiệp, xây dựng cơ sở chế biến nông sản, phát triển sản xuất cây vụ đông. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân có dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp khuyến khích đầu tư của tỉnh đã được UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận đầu tư, được hưởng ưu đãi về đất đai như miễn tiền thuê đất từ 11 – 15 năm, được thuê đất với mức giá thấp nhất của loại đất tương ứng.

Thời gian tới, Thái Bình tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vùng, khu, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Thúc đẩy các hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ sản xuất, ứng dụng hiệu quả công nghệ mới tạo động lực về lợi ích để thúc đẩy khoa học công nghệ gắn bó với sản xuất, kinh doanh, hướng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm.

Xác định Chương trình OCOP có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đến phát triển kinh tế địa phương theo hướng phát huy nội lực, gia tăng giá trị và là giải pháp nhiệm vụ quan trọng, tỉnh Thái Nguyên ngày càng quan tâm, đầu tư từng bước hình thành nhóm sản phẩm nông sản chủ lực, lợi thế gắn với vùng sản xuất hàng hóa tập trung.

Tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều chính sách, đề án để tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ; ưu tiên nguồn vốn sự nghiệp hỗ trợ cho các dự án phát triển theo chuỗi giá trị, các chủ thể là các HTX tham gia phát triển sản phẩm. Hỗ trợ thiết kế logo, đăng ký bảo hộ nhãn hiệu sản phẩm, xây dựng dữ liệu sản phẩm, thực hiện truy xuất nguồn gốc… Qua đó, chương trình đã tạo những tín hiệu tích cực, trở thành động lực để phát triển kinh tế vùng nông thôn, tạo ra những sản phẩm theo chuỗi giá trị, nâng cao thu nhập cho người dân.

Trong thời gian tới, tỉnh Thái Nguyên sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế, chính sách của trung ương, của tỉnh trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đặc biệt quan tâm đến phát triển tổ chức sản xuất, hỗ trợ các dự án phát triển theo chuỗi liên kết. Trong đó, tập trung phát triển các loại hình siêu thị, cửa hàng phân phối sản phẩm, các tuyến liên tỉnh kết nối giao thương cung – cầu để tiêu thụ sản phẩm Thái Nguyên trên thị trường trong và ngoài nước. Tổ chức sự kiện quảng bá sản phẩm gắn liền với du lịch, hội chợ, triển lãm. Đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch và gắn kết với chuỗi sản phẩm OCOP là giải pháp nhằm tiêu thụ và nâng cao giá trị gia tăng các sản phẩm.

Minh Đức

Trồng rau bằng smartphone, chị nông dân đều tay thu tiền tỷ

Trồng rau bằng smartphone, chị nông dân đều tay thu tiền tỷ

Sản phẩm bán ra có mã QR truy xuất nguồn gốc, được bán trong nước và xuất khẩu nhờ vào số hoá nông nghiệp mà người nông dân không còn phải lo kêu gọi “giải cứu”.

Số hoá trồng rau

Những quả cà chua chín, rau cải xanh chất lượng được các đơn vị thu mua hết tới tay người tiêu dùng qua các chuỗi thực phẩm sạch và xuất khẩu đi quốc tế. Từ câu chuyện rau củ trồng ra phải bỏ, đi làm từ thiện tới thu tiền tỷ như hiện nay nhờ bước đi táo bạo của người nông dân.

Nói về câu chuyện giải cứu nông sản thời gian gần đây, bà Lê Thị Dung (một nông dân ở xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình) rất thấu hiểu vì đã từng rơi vào tỉnh cảnh này. Sản phẩm nông nghiệp sau khi thu hoạch nhưng bế tắc đầu ra, bà phải đi ủng hộ các trường học, làm từ thiện ở các chùa.

Ước mơ trở thành doanh nhân nông nghiệp, năm 2000, bà Dung bắt đầu tích tụ ruộng đất để làm nông nghiệp quy mô lớn. Bà kể, thời kỳ mới khởi nghiệp, đất cải tạo khó khăn, công việc chủ yếu là thuê người làm bằng chân tay nên hiệu quả thấp. Sản phẩm sau khi thu hoạch không có người mua do không có thương hiệu.

Trồng rau theo mô hình ứng dụng công nghệ cao 

Sớm nhận ra vai trò của công nghệ trong sản xuất nông nghiệp, bà Dung là những nông dân đầu tiên ứng dụng IOT (Internet vạn vật) vào trang trại của mình. Hệ thống giải pháp này có khả năng đo đạc tất cả các thông số của đất, môi trường, đề xuất thời gian tưới, thời gian chiếu sáng phù hợp theo từng giai đoạn cho các trang trại trồng trọt.Gắn bó với nông nghiệp hàng chục năm, bà Dung mới thấy rằng, đầu tư nông nghiệp cần phải bài bản, có lộ trình xây dựng thương hiệu thì mới có thể thành công.

Theo đó, dữ liệu do các cảm biến toàn bộ khu vườn sẽ thu thập được đưa về bộ xử lý tập trung. Hệ thống có thể phân tích và đưa ra các lệnh điều khiển tại chỗ mà không cần chờ hệ thống máy chủ phân tích. Kết quả làm giảm đáng kể thời gian trễ khi điều khiển các hệ thống tưới, điều hòa không khí, đóng – mở và điều khiển các cơ cấu chấp hành… Hơn nữa, cơ chế này cho phép hệ thống vẫn hoạt động bình thường ngay cả khi không có kết nối Internet đến hệ thống máy chủ.

Bà Dung có thể thao tác ngay tại các tủ điều khiển cũng như trên ứng dụng trên điện thoại di động. Từ đó, bà có thể giám sát mọi hoạt động sản xuất và đưa ra các quyết định cần thiết mọi lúc, mọi nơi.

Bà cho biết, tất cả các quy trình từ làm phân, tưới nước tới chăm sóc cây đều có máy tính ghi lại và thực hiện quản lý trên điện thoại. Nhờ vậy, bà dễ dàng nắm bắt được tình hình của trang trại.

Thu tiền tỷ mỗi năm

Nói về hiệu quả khi ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp, bà Dung cho hay, với thói quen cũ mất nhiều công sức lao động mà vẫn không đảm bảo chất lượng. Khi có công nghệ, hiệu quả vượt bậc, quá trình sản xuất đã giảm lượng phân, nước tưới và sức lao động giảm mà sản phẩm chất lượng tốt. Sau khi hết vụ có thể xem lại một lịch trình từ đầu đến cuối. Nếu thấy chất lượng, năng suất kém, người nông dân có thể rút kinh nghiệm điều chỉnh chu trình chăm sóc vào vụ sau.

“Hiệu quả rõ rệt là trước phải thuê tới 20 công nhân, thậm chí có thời vụ lên tới 40 người nhưng giờ chỉ cần 10 người có thể điều hành và làm được mọi việc từ xa, điều khiển toàn bộ máy móc. Chất lượng sản phẩm tuyệt đối an toàn, nông sản xuất ra thị trường có sự khác biệt rõ rệt”, bà Dung chia sẻ.

Các mặt hàng chủ đạo là hành lá, dưa chuột, dưa vàng và các loại rau,… cung cấp cho các thị trường lớn như Ninh Bình, Hà Nội, Hải Phòng vào các chuỗi thực phẩm sạch và xuất khẩu. Các sản phẩm đều có tem truy xuất nguồn gốc. Hai năm gần đây, doanh thu từ trang trại đạt khoảng 19 tỷ đồng.

Thời gian tới, bên cạnh sản xuất, bà Dung lên kế hoạch để xây dựng nhà máy sấy nông sản để tiêu thụ cho bà con nông dân trong vùng nhằm phát triển nông nghiệp bền vững.

Câu chuyện của bà Dung đặt ra vấn đề chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp. Là một quốc gia nông nghiệp với khu vực nông thôn chiếm tới 63% dân cư, 66% số hộ, 68% người làm việc; nông nghiệp chiếm tỷ trọng 13,96% trong GDP, mô hình sản xuất nhỏ lẻ, kém hiệu quả và thiếu liên kết chuỗi giá trị vẫn luôn là tồn tại của nền nông nghiệp nước ta nhiều năm qua, do đó, chuyển đổi số sẽ khắc phục triệt để tồn tại này.

Quản lý và vận hành vườn rau từ điện thoại thông minh

Công nghệ làm giảm công chăm sóc nhưng chất lượng tốt hơn

Hệ thống nguồn nước sạch đảm bảo

Nhật ký nông vụ được ghi chép cẩn thận nhờ máy tính

Cây trồng được tưới và chăm sóc theo tiêu chuẩn cao

Vườn rau sạch mang lại nguồn thu cao mỗi năm

Sản phẩm bán ra được tiêu thụ hết và không bị ép giá


Đức Anh – Đức Yên

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao

(ĐCSVN) – Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp tạo ra những sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao được coi là xu hướng tất yếu giúp sản xuất nông nghiệp phát triển vượt bậc, qua đó làm thay đổi bức tranh nông nghiệp nước nhà.

Nông nghiệp công nghệ cao – xu thế tất yếu

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, sự bùng nổ của công nghệ thông tin; quá trình hội nhập quốc tế đòi hỏi chất lượng nông sản càng cao; cùng với diện tích đất bị thu hẹp do đô thị hóa, do biến đổi khí hậu trong khi dân số tăng nên nhu cầu lương thực không ngừng tăng lên… là những thách thức rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp. 

Giải bài toán cho các vấn đề này, theo các chuyên gia, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao là xu hướng tất yếu, là câu trả lời cho việc phát triển nền nông nghiệp nước nhà.

Nông nghiệp công nghệ cao là một nền nông nghiệp ứng dụng hợp lý những công nghệ mới, tiên tiến vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội và bảo đảm sự phát triển nông nghiệp bền vững. 

Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, đổi mới khoa học công nghệ được coi là một trong những giải pháp then chốt, trọng tâm. Ứng dụng khoa học công nghệ giải quyết các thách thức trong phát triển nông nghiệp bằng các ưu việt của các công nghệ như: Công nghệ sinh học, công nghệ nhà kính, công nghệ tưới nhỏ giọt, công nghệ cảm biến, tự động hóa, internet vạn vật… giúp sản xuất nông nghiệp tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, hạ giá thành và nâng cao chất lượng nông sản, bảo vệ môi trường. Mặt khác, nông nghiệp công nghệ cao giúp nông dân chủ động trong sản xuất, khắc phục được tính mùa vụ, giảm sự lệ thuộc vào thời tiết, khí hậu, đáp ứng nhu cầu thị trường về chất lượng nông sản.

Thu hoạch cá chim vảy vàng tại Nha Trang – Kết quả của dự án đổi mới sáng tạo.

Theo báo cáo, các tiến bộ về khoa học công nghệ đóng góp trên 30% giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, 38% trong sản xuất giống cây trồng, vật nuôi. Mức độ tổn thất của nông sản đã giảm đáng kể (lúa gạo còn dưới 10%,…). Mức độ cơ giới hóa ở khâu làm đất đối với các loại cây hàng năm (lúa, mía, ngô, rau màu) đạt khoảng 94%; khâu thu hoạch lúa đạt 50% (các tỉnh đồng bằng đạt 90%).

Nhận định về sự đóng góp của khoa học công nghệ đối với sự phát triển của nông nghiệp nước ta, nhiều chuyên gia, nhà khoa học chung nhận định, khoa học và công nghệ thực sự là một trong các giải pháp quan trọng đóng góp có hiệu quả, tạo ra chuyển biến mang tính đột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp, phục vụ tái cơ cấu nền nông nghiệp, nâng cao đời sống của người dân.

Sản xuất phát triển nhờ ứng dụng công nghệ cao

Xác định tầm quan trọng của nông nghiệp ứng dụng công nghệ giúp thay đổi bức tranh nông nghiệp nước nhà, đưa nền nông nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XII ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW,  05/11/2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới nhấn mạnh những định hướng về phát triển nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao như: “Hiện đại hóa, thương mại hóa nông nghiệp, chuyển mạnh sang phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, sản xuất lớn, dựa vào khoa học – công nghệ, có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nền nông nghiệp đa dạng phù hợp với lợi thế của từng vùng”…

Định hướng này cùng với những chính sách được ban hành trước đó về nông nghiệp công nghệ cao như Quyết định số 176/QĐ-TTg ngày 29/1/2010, phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020; Quyết định số 1895/QĐ-TTg, ngày 17/12/2012 phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thuộc Chương trình Quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020 đã tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta về phát triển nông nghiệp, trong đó có nông nghiệp công nghệ cao. Qua đó, góp phần tích cực đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đạt được những thành tựu đáng tự hào.

Theo báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2019, nhờ ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất, cơ cấu sản xuất nông nghiệp tiếp tục được điều chỉnh theo hướng phát huy lợi thế của mỗi địa phương, vùng, miền và cả nước, gắn với nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào các khu sản xuất tập trung quy mô lớn với công nghệ hiện đại gắn với các nhà máy, cơ sở bảo quản, chế biến nông sản có giá trị xuất khẩu cao.

Nhiều doanh nghiệp đã đầu tư vào các khu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tập trung quy mô lớn với công nghệ hiện đại.

Trong lĩnh vực trồng trọt đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến; do làm tốt công tác phòng trừ sâu bệnh nên sản lượng và chất lượng nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế tăng. Tỷ trọng gạo chất lượng cao chiếm trên 80% gạo xuất khẩu, giúp nâng giá gạo xuất khẩu bình quân tăng từ 502 USD/tấn năm 2018 lên 510 USD/tấn năm 2019. Đặc biệt, giống gạo ST25 được công nhận là “gạo ngon nhất thế giới năm 2019” tại Hội nghị Thương mại gạo thế giới lần thứ 11 tổ chức tại Phi-lip-pin. 

Việc áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP) ngày càng mở rộng và hiệu quả mang lại sản phẩm an toàn, chất lượng tốt, năng suất cao. Bên cạnh đó, việc mở rộng ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất cùng với kết quả nghiên cứu, đánh giá, triển khai mô hình cánh đồng mẫu lớn đã đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị …

Ngành lâm nghiệp có sự phát triển đáng kể với tốc độ tăng trưởng ổn định; đã làm chủ nhiều công nghệ tiên tiến, tạo ra các dây chuyền chế biến, bảo quản có chất lượng tương đương với sản phẩm nhập khẩu; hình thành ngành công nghiệp chế biến lâm sản đứng thứ hai Châu Á và đứng thứ năm trên thế giới.

Lĩnh vực chăn nuôi đã có sự chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chăn nuôi trang trại, gia trại, tập trung theo chuỗi khép kín, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, công nghệ cao; nhiều mô hình chăn nuôi hữu cơ đã hình thành và đang được phổ biến, nhân rộng. Công nghệ chế biến thủy sản ngày càng được đầu tư hiện đại để đáp ứng các yêu cầu của thị trường quốc tế.

Với sự giúp sức của khoa học công nghệ được ứng dụng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất nông nghiệp từ nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi; kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, canh tác; thức ăn chăn nuôi; phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc thú y; kỹ thuật chế biến, bảo quản sau thu hoạch… đã tạo ra giá trị mới cho nông sản, giúp sản phẩm tươi, an toàn, nâng cao năng suất, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng… Các kết quả này góp phần đưa kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam tăng nhanh qua các năm, năm 2019 tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản ước đạt 41,3 tỷ USD; thặng dư thương mại toàn ngành ước đạt mức 10,4 tỷ USD.

Gỡ rào cản để phát huy nguồn lực 

Những đóng góp của khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp cho thấy việc phát triển sản xuất ứng dụng công nghệ cao là hướng đi đúng, đã và đang tạo động lực mới cho ngành nông nghiệp Việt Nam. 

Tuy nhiên, dù có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao vẫn còn gặp phải không ít khó khăn. Mô hình sản xuất nông nghiệp này đồng nghĩa với việc tổ chức sản xuất phải được thực hiện trên quy mô tương đối lớn và đầu tư tương xứng về mặt hạ tầng, công nghệ sản xuất trong khi dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp tại nước ta còn thấp. Bên cạnh đó, thiếu đất quy mô lớn để đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ theo vùng sản xuất tập trung; thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao còn hạn hẹp, không ổn định; bất cập trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, nhân lực còn hạn chế… là những rào cản cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao thời gian qua.

Những đóng góp của khoa học công nghệ trong sản xuất nông nghiệp cho thấy việc phát triển sản xuất ứng dụng công nghệ cao là hướng đi đúng. 

Tháo gỡ những khó khăn này, thời gian qua, Đảng, Nhà nước quan tâm chỉ đạo và ban hành nhiều cơ chế, chính sách đặc thù, thu hút đầu tư vào sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hộ nông dân sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Trong đó, việc thu hút đầu tư cho nông nghiệp đặc biệt nông nghiệp công nghệ cao từ lâu được hưởng nhiều ưu đãi. Cụ thể, Nghị định số 41/2010/NĐ-CP, ngày 12/4/2010,của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, với chính sách cho vay tín chấp ở hạn mức phù hợp; Nghị quyết số 30/NQ-CP, ngày 7/3/2017, dành ít nhất 100.000 tỷ đồng để thực hiện chương trình cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường từ 0,5% -1,5% đối với lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch. Đặc biệt, Nghị định số 116/2018/NĐ-CP, ngày 7/9/2018, của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP, ngày 9/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, có nhiều điểm đột phá mới về cho vay đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao như: cho doanh nghiệp được vay không có tài sản đảm bảo tối đa bằng 70% -80% giá trị dự án nông nghiệp công nghệ cao với hình thức cho vay linh hoạt; ưu đãi về tiền thuê đất, cắt giảm thủ tục hành chính…

Bên cạnh đó, nhiều chính sách để nâng cao quy mô và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong nông nghiệp cũng được thực thi. Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 với mục tiêu phát triển tỷ lệ nhân lực qua đào tạo khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng từ mức 15,5% năm 2010 lên khoảng 50% năm 2020. Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến nay, ngành nông nghiệp triển khai đào tạo được trên 2,3 triệu lao động nông thôn học nghề nông nghiệp. Nông dân sau khi học nghề đã áp dụng được kỹ năng mới vào sản xuất; nhiều lao động sau học nghề mạnh dạn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao, đem lại thu nhập gấp 3-4 lần trước đây.

Cùng với đó, Chính phủ cũng dành nhiều nguồn lực tạo điều kiện cho nghiên cứu, chuyên giao công nghệ năng suất chất lượng nông sản; thực hiện chủ trương giao đất, giao rừng lâu dài cho người sử dụng, tạo điều kiện cho tích tụ và tập trung đất nông nghiệp theo nguyên tắc thị trường để hình thành nền nông nghiệp hiện đại. Đặc biệt là những nỗ lực lớn trong công tác tổ chức và phát triển thị trường ở cả trong và ngoài nước. Việt Nam đã và đang tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, cho thấy sự tích cực của Nhà nước trong việc tìm kiếm, mở rộng thị trường cho nông sản Việt Nam. Nông sản Việt Nam từng bước xâm nhập vào những thị trường có sức mua lớn, đòi hỏi cao về chất lượng như Nhật Bản, châu Âu, Mỹ, Australia…

Những chính sách tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp công nghệ cao phát triển đã khẳng định sự quan tâm đầu tư của Đảng, Nhà nước cho nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao. 

Để khoa học công nghệ thực sự thúc đẩy sự phát triển ngành nông nghiệp, trong thời gian tới, tiếp tục cần sự quan tâm của các bộ, ngành, địa phương hoàn thiện chính sách khuyến khích, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; cùng với đó cần sự đồng bộ trong toàn hệ thống để đưa các chính sách vào thực tiễn một cách thực sự để thực thi hiệu quả, góp phần đưa nền nông nghiệp Việt Nam phát triển bền vững./.

Lê Linh

Ứng dụng công nghệ cao để nông nghiệp “cất cánh”

Trong Báo cáo của Ban Chấp hành T.Ư Đảng khóa XII do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng trình bày tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đã nhấn mạnh nhiệm vụ đối với lĩnh vực nông nghiệp: “Phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung, quy mô lớn theo hướng hiện đại, ứng dụng công nghệ mới, giá trị gia tăng cao”.

Đảng và Nhà nước luôn coi trọng và quan tâm phát triển nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân và một trong những giải pháp quan trọng để phát triển nông nghiệp thời gian tới chính là ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao. Cũng ngay trong tháng 1 này, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 70/QĐ-TTg về việc thành lập và ban hành Quy chế hoạt động của Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Thái Nguyên. Trước đó, một số khu nông nghiệp công nghệ cao được Chính phủ phê duyệt tại các tỉnh Hậu Giang, Phú Yên, Bạc Liêu… Ngoài ra, trên cả nước còn có nhiều khu nông nghiệp công nghệ cao do UBND tỉnh thành lập. Hiện cả nước có 46 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và chín vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được công nhận.

Đây là hướng đi đúng trong sản xuất nông nghiệp, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ; đồng thời cũng là giải pháp then chốt, trọng tâm để thực hiện cơ cấu lại ngành nông nghiệp, tạo ra sự phát triển vượt bậc của toàn ngành. Trong những năm qua, tại hầu hết các địa phương, phát triển nông nghiệp công nghệ cao đều được chú trọng và đẩy mạnh thực hiện. Thí dụ tại Lâm Đồng, đã có gần 55.000 ha ứng dụng công nghệ cao như: Áp dụng hệ thống quản lý đồng bộ, điều khiển tự động về độ ẩm, nhiệt độ, nước tưới, dinh dưỡng thông qua hệ thống cảm biến kết nối với máy tính, điện thoại thông minh; ứng dụng công nghệ GIS (hệ thống thông tin địa lý) quản lý và dự báo sâu bệnh hại cây trồng… Qua đó, người điều hành có các thông tin chính xác nhất về điều kiện sản xuất để giám sát và điều khiển việc tưới tiêu, mở mái nhà kính…, giúp cây trồng sinh trưởng tối ưu, cho năng suất và chất lượng cao; giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón trong canh tác; giảm nhân công lao động cho các doanh nghiệp, hợp tác xã… Nhờ vậy, năng suất lao động và giá trị kinh tế tăng gấp nhiều lần so với sản xuất truyền thống.

Việc áp dụng công nghệ cao đã tạo ra nhiều sản phẩm nông, lâm, thủy sản chất lượng, đáp ứng các yêu cầu khắt khe nhất của nhiều thị trường trên thế giới. Để từng bước đưa Việt Nam vào danh sách những quốc gia có nền nông nghiệp phát triển hàng đầu thế giới, thời gian tới cần tiếp tục quy hoạch các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; tập trung nguồn lực để xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu theo quy hoạch, ưu tiên đầu tư nâng cấp những công trình có nhu cầu bức thiết phục vụ sản xuất như giao thông, thủy lợi, điện…; xây dựng, thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách trong hỗ trợ đầu tư nông nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác đào tạo cán bộ trẻ, có năng lực, tâm huyết để xây dựng lực lượng cán bộ, khoa học, kỹ thuật, quản lý phù hợp yêu cầu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Cùng với đó là đổi mới công tác dạy nghề cho lao động cơ sở theo hướng ứng dụng nông nghiệp thông minh, đáp ứng thực tế sản xuất của từng địa phương trên cả nước.

TIẾN ANH

Phát huy sức mạnh tổng hợp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, kỹ thuật số, Internet vạn vật đòi hỏi cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, tạo lập và phát triển thế trận lòng dân để thiết lập và giành thế chủ động trên mặt trận thông tin, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, tạo sức mạnh tổng hợp các binh chủng lực lượng và các tầng lớp nhân dân trên không gian mạng.

Hội thảo khoa học quốc gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm

sai trái, thù địch

1. Sau 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhân dân ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách để đạt những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Nền kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định trong một thời gian dài. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2014 đạt mức tăng 5,98%; tăng trưởng GDP năm 2019 đạt 7,02%. Một số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao như gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hồ tiêu, gỗ và sản phẩm gỗ, thủy sản… đứng nhóm hàng đầu thế giới. Năm 2020, nước ta thuộc số ít quốc gia trên thế giới đạt mức tăng trưởng dương (đạt 2,91%) bất chấp tác động của đại dịch COVID-19, kinh tế vĩ mô ổn định, nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước được tổ chức thành công, năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN 2020 với nhiều hoạt động có ý nghĩa thiết thực…

Những kết quả đạt được đã minh chứng, khẳng định sự đúng đắn về đường lối đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội của Đảng. Đó cũng là câu trả lời đanh thép, rõ ràng, cụ thể đáp trả lại những tư tưởng, ý kiến đòi “xét lại” lịch sử, xuyên tạc phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới và cách mạng Việt Nam.

Việt Nam hiện có khoảng 62 triệu người kết nối Internet, đứng thứ 7 thế giới về số người sử dụng Internet, trong đó hơn 60 triệu tài khoản facebook, với đặc điểm đa số đối tượng kết nối, sử dụng tài khoản mạng xã hội là người trẻ, số người cao tuổi, hưu trí đọc tin bài qua mạng xã hội và Internet có xu hướng tăng nhanh. Đây vừa là thuận lợi vừa là thách thức của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Không gian thông tin được mở rộng không giới hạn thì không gian chống phá cũng mở rộng và lực lượng chống phá ngày càng đa dạng với phương thức, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi, hiện đại…

2. Dù được tiến hành với “muôn hình vạn trạng”, các chiêu trò – hình thức, nhưng mục đích cuối cùng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhắm tới vẫn là chống phá Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ, xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ hai mục tiêu lớn này, chúng đưa ra những nội dung, triển khai “đánh” vào nền tảng, đường lối của Đảng, cơ chế chính sách của Nhà nước, vào bản chất chế độ, vào khâu yếu của cán bộ, đảng viên, “đánh” vào hạn chế của thực trạng xã hội… Nội dung và thủ đoạn đánh phá cụ thể của chúng rất đa dạng, lợi dụng diễn biến tình hình, những vụ việc phức tạp, nổi cộm, vấn đề dư luận xã hội quan tâm để suy diễn, quy chụp, khuếch đại, chống phá.

Chúng tập trung mũi đột phá tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác – Lênin, phủ định hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử hoặc chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là phù hợp với dân tộc Việt Nam. Chúng tấn công vào cơ sở khoa học và lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên đa đảng, cổ xúy các hoạt động núp dưới bóng “xã hội dân sự”, “bảo vệ nhân quyền”…

Chúng triệt để khai thác thông tin sơ hở trên báo chí, truyền thông, phát ngôn của một số đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan, bộ, ngành; khai thác khoảng trống thông tin, vụ việc phức tạp, nhạy cảm để tuyên truyền xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo sự thật. Tận dụng không gian mạng và sự đa dạng của các loại hình dịch vụ mạng xã hội trực tuyến, chúng ra sức hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước thông qua các ứng dụng, dịch vụ website, blog, Facebook, Twitter, Youtube, Instagram… với thủ đoạn lồng ghép, pha trộn thông tin “thật – giả”, cắt ghép hình ảnh, video về các đồng chí lãnh đạo cấp cao để công kích, xuyên tạc nói xấu; trích dẫn các bài phỏng vấn, ý kiến của các nhân vật nổi tiếng, có tư tưởng bất mãn, cơ hội chính trị để dẫn dụ, thu hút dư luận.

3. Nghị quyết 35 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Trong thời gian tới, nhất là giai đoạn sau Đại hội XIII của Đảng, để công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh ngăn chặn, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt hiệu quả cao, cần tập trung triển khai một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Thứ nhất, các ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị cần đưa nhiệm vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng vào trong các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ chính trị thường xuyên của cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Coi trọng công tác tư tưởng, quán triệt tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đối với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng; tăng cường giáo dục lý luận chính trị, nâng cao phẩm chất đạo đức, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ trí tuệ cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ lãnh đạo các cấp, cán bộ quản lý báo chí, truyền thông có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp, bản lĩnh và kỹ năng đối thoại và phát ngôn khi có những vấn đề nổi cộm đòi hỏi sự lên tiếng và giải quyết của các cơ quan liên quan.

Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng – Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII

 Thứ hai, tăng cường xây dựng thế trận an ninh thông tin nhân dân trên không gian mạng trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp các lực lượng trong hệ thống chính trị. Nâng cao khả năng tự phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước các thủ đoạn, hoạt động tuyên truyền tán phát các thông tin xấu độc, sai sự thật, quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giáo dục góp phần nâng cao nhận thức và báo chí, truyền thông làm nền tảng, trụ cột để xây dựng thành trì thế trận các tầng lớp nhân dân có sức đề kháng vững chắc, bồi đắp nền tảng tinh thần, lý tưởng cao đẹp, lan tỏa sâu rộng nhân lên những tấm gương, điển hình tập thể, cá nhân tiên tiến. Lấy báo chí, truyền thông làm lực lượng nòng cốt để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; xây dựng và nhân lên sức mạnh đấu tranh từ tiếng nói chính thống; lan tỏa rộng rãi trên không gian mạng và các tầng lớp nhân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng và bảo vệ môi trường thông tin xã hội lành mạnh, phát triển bền vững.

Thứ ba, các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, nhất là các cơ quan nghiên cứu lý luận, chú trọng xây dựng hệ thống luận cứ sắc bén phản bác các quan điểm sai trái; bảo vệ và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn. Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải chỉ rõ những hành vi, âm mưu chống phá, thủ đoạn xấu độc, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại… của các thông tin sai lệch, tin giả, quan điểm sai trái, thù địch liên quan vấn đề, lĩnh vực quản lý của mỗi cơ quan bộ ngành, địa phương. Từ đó, làm cơ sở chủ động công tác đấu tranh, phản bác có sức thuyết phục sâu sắc.

Thứ tư, các cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến địa phương vào cuộc chỉ đạo xây dựng trận địa thông tin và hợp đồng binh chủng các lực lượng, đặc biệt là các lực lượng công tác tuyên giáo các cấp. Quan tâm xây dựng các lực lượng chuyên nghiệp nắm vững quan điểm, đường lối, được đào tạo bài bản về công nghệ, về các kỹ năng thủ thuật thông tin, truyền thông.

Phát huy vai trò của mỗi cấp, mỗi cơ quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng và tổ chức đào tạo, tập huấn. Công tác đào tạo tập huấn bao gồm cao cấp lý luận chính trị và đào tạo đặc biệt, trang bị kiến thức lý luận và thực tiễn một cách trực tiếp và cụ thể, phải đào tạo kỹ năng phương pháp đấu tranh nhạy bén, sáng tạo trong những tình huống cụ thể, vấn đề cụ thể hoặc tiêu biểu, liên hệ và vận dụng trên thực tế.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt.

Thứ năm, xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và cơ chế bảo vệ lực lượng, bảo vệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, bảo vệ những điều tốt đẹp, bảo vệ người tốt, việc tốt và đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xấu độc. Để xây dựng thế trận lòng dân, trước hết cần phát huy vai trò cấp ủy, người đứng đầu vừa chỉ đạo thực tiễn thực hiện nhiệm vụ chính trị vừa chỉ đạo lấy công tác tuyên truyền, vận động đi tiên phong, làm nòng cốt trong xây dựng và tăng cường niềm tin của nhân dân; làm sống động và lan tỏa những mô hình hay, gương người tử tế, nhất là những tấm gương lãnh đạo các cấp, cán bộ, đảng viên hy sinh, tận tụy với công việc, gần dân, giúp đỡ dân.

Thứ sáu, Đảng cần tiếp tục đẩy mạnh đổi mới tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực hiệu quả của hệ thống chính trị, chuyển đổi mạnh mẽ phương thức quản lý theo hiệu quả công việc, chất lượng và số lượng sản phẩm công việc. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất, trình độ trí tuệ và năng lực thực tiễn là nhiệm vụ “then chốt của then chốt” để xây dựng và bảo vệ Đảng trong sạch, vững mạnh và làm trụ cột gây dựng, phát triển thế trận lòng dân. Tiếp tục chỉ đạo đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; từng bước chuẩn hóa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, phát triển, ủng hộ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Kiểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền, bổ nhiệm cán bộ vì người mà không vì công việc./. 

Lê Minh

Thay đổi hệ thống lương thực để ngăn chặn các đại dịch tương lai

Thay đổi hệ thống lương thực để ngăn chặn các đại dịch tương lai

Các nghiên cứu của Montenegro de Wit thường tập trung vào chủ đề giao thoa giữa sinh thái nông nghiệp, chủ quyền lương thực và công nghệ sinh học. Tuy nhiên trong năm vừa rồi, cô đã thực hiện một dự án mới để nghiên cứu vai trò của hệ thống lương thực trong đại dịch và khám phá xem các bài học từ phong trào bãi nô có thể giúp định vị sinh thái nông nghiệp và đem đến những thay đổi như thế nào.

Công bố mới của nhà nghiên cứu Maywa Montenegro de Wit (Đại học California Santa Cruz) trên tạp chí The Journal of Peasant Studies cho thấy các yếu tố tiềm ẩn trong hệ thống lương thực đã thúc đẩy sự bùng nổ của đại dịch Covid-19 và nhiều dịch bệnh nguy hiểm khác, như cúm lợn, cúm gia cầm và Ebola.

Đại học California tại Santa Cruz dạy các phương thức sản xuất thực phẩm thay thế thông qua Trung tâm Nông học và Hệ thống Thực phẩm bền vững. Các sinh viên trong lớp của giáo sư danh dự Deborah Letourneau đang học giữa các luống xà lách, húng, cà rốt, táo và súp lơ. Ảnh: Damian Parr, 2018.

Các nghiên cứu của Montenegro de Wit thường tập trung vào chủ đề giao thoa giữa sinh thái nông nghiệp, chủ quyền lương thực và công nghệ sinh học. Tuy nhiên trong năm vừa rồi, cô đã thực hiện một dự án mới để nghiên cứu vai trò của hệ thống lương thực trong đại dịch và khám phá xem các bài học từ phong trào bãi nô có thể giúp định vị sinh thái nông nghiệp và đem đến những thay đổi như thế nào. “Năm ngoái, tất cả chúng ta đều trải qua một loạt tình trạng đặc biệt: đại dịch Covid-19, sự nổi lên về vấn đề chủng tộc, sự thừa nhận trên diện rộng về bạo lực có tính hệ thống đối với người Mỹ da đen, người da màu và người nghèo”, Montenegro de Wit nhận định. “Tôi thấy rõ ràng có sự giao thoa giữa phong trào bãi nô và các phong trào xã hội về sinh thái nông nghiệp và chủ quyền lương thực. Nó đã thôi thúc tôi thử ráp nối tất cả các mảnh ghép này lại với nhau”.

Quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp dẫn đến sự xâm lấn vào môi trường sống và làm mất đi các vùng đệm tự nhiên vốn giúp con người ngăn chặn các mầm bệnh từ động vật hoang dã. Trong khi đó, mật độ vật nuôi dày đặc trong các nhà máy và chuồng trại thiếu vệ sinh lại khiến cho dịch bệnh lây truyền nhanh chóng hơn. Đồng thời, việc thay thế môi trường sống với những cây trồng độc canh cũng làm giảm đa dạng sinh học.

Thêm vào đó, sự tập trung quyền lực trong hệ thống lương thực hiện nay làm cho các chuỗi cung ứng trở nên dễ bị tổn thương còn các tập đoàn thì có thể dễ dàng bóc lột nhân công. Đại dịch Covid-19 đã phơi bày hai hiện tượng ấy, và những người da màu chính là cộng đồng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi sự mất an ninh lương thực và điều kiện làm việc không an toàn.

Montenegro de Wit cho rằng, đã đến lúc phải có một cách tiếp cận khác đối với hệ thống lương thực, và Covid-19 nên là một hồi chuông cảnh tỉnh toàn cầu. “Tôi hi vọng mọi người sẽ nhận thức được, Covid-19 không phải là đại dịch cuối cùng mà chỉ là một trong rất nhiều đại dịch có thể diễn ra trong tương lai”, cô nói. “Chúng ta phải thay đổi hoàn toàn mô hình sản xuất, không chỉ ở Mỹ mà trên toàn thế giới, để ngăn chặn các đại dịch tiếp theo”.

Nông nghiệp sinh thái có thể đem giải pháp cho vấn đề này. Các phương án như trồng đa canh, xen canh có thể giúp tăng cường sự đa dạng của các loại cây trồng; gia súc, gia cầm cũng có thể được nuôi ngay trên đất theo những phương thức có lợi về mặt sinh thái. Các chiến lược phát triển sinh thái nông nghiệp sẽ giúp thúc đẩy đa dạng sinh học, từ đó khiến các mầm bệnh khó lây truyền qua các quần thể hơn.

Để thúc đẩy các loại hình sản xuất lương thực như vậy sẽ đòi hỏi phải có những hệ thống quyền lực cố định. Do vậy, Montenegro de Wit đã tìm đến các phong trào về sự công bằng giữa các chủng tộc và phong trào bãi bỏ từ các cuộc đấu tranh chống lại tổ hợp nhà tù – công nghiệp (prison-industrial complex). “Nông nghiệp sinh thái sẽ gặp nhiều khó khăn để trở thành phương thức sản xuất thực phẩm chủ đạo, trừ khi chúng ta thực sự nghiêm túc với việc bãi bỏ các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp”, cô nói. “Cần loại bỏ các tổ hợp nông nghiệp – công nghiệp đi, nếu không thì sẽ không thể phát triển được các giải pháp thay thế”.

Montenegro de Wit cho rằng, có một bài học quan trọng mà các nhà sinh thái nông nghiệp nên học hỏi từ những người theo chủ nghĩa bãi nô: nhận ra điểm khác biệt giữa sự thay đổi cấu trúc thực sự với những điều chỉnh đơn thuần nhằm duy trì trạng thái hiện tại. Theo quan điểm của cô, nông nghiệp sinh thái vẫn còn những lỗ hổng trong việc thừa nhận một cách rõ ràng tác động của phân biệt chủng tộc trong các hệ thống lương thực, tuy nhiên điều đó đang thay đổi, và cô hi vọng những nghiên cứu của mình sẽ là một phần dẫn đến những thay đổi đó. □

Mỹ Hạnh – Tiasang, theo phys.org

KỸ THUẬT NUÔI CÁ DĨA

KỸ THUẬT NUÔI CÁ DĨA

 1. Đặc điểm giống, thổ nhưỡng và điều kiện canh tác theo quy trình

Cá dĩa sống ẩn nấp trong các thân cây, rễ cây chìm trong nước, ở những thủy vực có nước sạch, trong, có tính axit và thường sống thành bầy.

Nhiệt độ thích hợp 28 – 300C. pH từ 6,5 – 7,0. Độ cứng của cá con: 6 – 80dH; cá sinh sản: 4 – 60dH. Oxy hòa tan trong bể nuôi trên 5 mg/lít.

2. Quy trình kỹ thuật nuôi cá dĩa

Hình: Cá Dĩa

a) Chăm sóc:

Cá giống: thân hình tròn, đầy đặn, khỏe mạnh, kỳ vây nguyên vẹn, phản xạ nhanh nhẹn.

Thức ăn: 3 lần/ngày, trùn chỉ, trùn huyết, Artemia, thức ăn chế biến gồm tim bò trộn với vitamin A, D, E.

Nước: thay hàng ngày, lượng nước thay 25 – 100% (thay tuần hoàn).

b) Sinh sản:

Cá dĩa thành thục có hiện tượng tự bắt cặp với nhau.

Tách cặp cá bố mẹ ra riêng chuyển vào bể đẻ đã chuẩn bị trước. Số lượng trứng khoảng 50 – 300 trứng/cặp.

c) Chăm sóc

Cá mới nở: chưa bơi lội được, bám vào giá thể.

Cá con bám trên mình cá bố mẹ: sau khi nở khoảng 4 ngày

Thức ăn cho cá bột  4 ngày tuổi: ấu trùng Artemia.

Cá con sau 4 – 6 tuần tuổi: đạt 3 – 4 cm, chúng ta chuyển cá vào bể có kích thước 1,2m x 0,5m x 0,5m, mật độ 100 con/bể. Tương tự khi cá lên 6 – 8 cm, mật độ nuôi khoảng 40 – 50 con/bể.

3. Hiệu quả về kinh tế: được tính toán dựa trên 5 cặp cá sinh sản tốt. Dòng cá sử dụng là cá dĩa đỏ.

 – Năng suất: 2.040 con/ năm

 – Tổng thu: 142.800.000 triệu đồng/ năm

 – Lợi nhuận ròng: 81.000.000 đồng/ năm

 4. Khuyến cáo các tổ chức, cá nhân áp dụng

 Quy trình sản xuất áp dụng tối ưu cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, nông hộ có quy mô từ 50m2 trở lên; vốn đầu tư tối thiểu 100.000.000 đồng; thời gian hoàn vốn 1 năm.

 5. Địa chỉ áp dụng thành công

 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao. Địa điểm:  Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Tp. HCM; Quy mô sản xuất:  200m2; Điện thoại: 028.38862726.

ĐƠN VỊ SOẠN THẢO NỘI DUNG:

  1. Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông nghiệp Công nghệ cao
  2. Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Nông nghiệp Công nghệ cao

ĐƠN VỊ BIÊN TẬP NỘI DUNG:

Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố