Bơm 17500 tỷ đồng phát triển nông nghiệp ĐBSCL bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới

Thứ năm, ngày 09/07/2020 06:07 AM (GMT+7)

Chương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) thực hiện thời gian qua đã làm thay đổi diện mạo nông thôn của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nhiều hoạt động sản xuất, văn hóa, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường được tổ chức hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, phức tạp, vùng ĐBSCL đang gặp nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trước đòi hỏi có một giải pháp lâu dài cho vùng này, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) đã xây dựng Chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu, gắn với xây dựng NTM vùng ĐBSCL.

666 xã được công nhận đạt chuẩn NTM

ĐBSCL có 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có tổng diện tích 3,94 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 27,4% và dân số 18 triệu người, chiếm 20% dân số cả nước.

Giai đoạn 2016-2019, nông nghiệp của vùng đạt tốc độ tăng trưởng GDP trung bình khoảng 3%/năm, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của toàn ngành (2,7%/năm). Nông nghiệp ĐBSCL đóng góp khoảng 34,6% GDP toàn ngành nông nghiệp cả nước và 33,5% GDP chung của vùng ĐBSCL.

Nông dân Võ Văn Trưng ở ấp Tân Long B, xã Bình Thành, huyện Phụng Hiệp (Hậu Giang) cho biết, mặc dù có thời điểm hạn mặn gay gắt, nhưng anh đã dự trữ sẵn nước ngọt trong ruộng và sử dụng phương pháp tưới nhỏ giọt trong nhà lưới theo công nghệ của Israel nên cây trồng không bị ảnh hưởng. Ảnh: Xây Ly

Năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản ĐBSCL đạt trên 8,5 tỷ USD chiếm 56,7% kim ngạch xuất khẩu chung của vùng và chiếm khoảng 20,1% kim ngạch xuất khẩu nông sản cả nước, trong đó gạo chiếm 80% kim ngạch xuất khẩu gạo của cả nước; cá tra chiếm 95%; tôm chiếm 60% và trái cây chiếm 65%.

Theo đánh giá của Bộ NNPTNT, chương trình xây dựng NTM đã làm thay đổi diện mạo nông thôn của vùng, nhiều hoạt động sản xuất, văn hóa, du lịch cộng đồng, bảo vệ môi trường được tổ chức sôi nổi, rộng khắp, hiệu quả và thiết thực, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.

Đến nay, vùng ĐBSCL đã có 18 đơn vị cấp huyện được công nhận đạt chuẩn NTM và 666 xã được công nhận đạt chuẩn NTM (chiếm 51,83% tổng số xã trong khu vực), bình quân 16,65 tiêu chí/xã.

Các tiêu chí đạt chuẩn chiếm tỷ lệ cao gồm: Quy hoạch, lao động, quốc phòng và an ninh, thông tin và truyền thông… Các tiêu chí đạt chuẩn chiếm tỷ lệ thấp gồm: môi trường, giao thông, cơ sở vật chất văn hóa, trường học, hộ nghèo…

Mặc dù vậy, phát triển nông nghiệp vùng ĐBSCL đang đứng trước nhiều khó khăn và thách thức lớn, khi là một trong những đồng bằng chịu tác động lớn nhất của biến đổi khí hậu (BĐKH) và nước biển dâng. Các hoạt động phát triển thượng nguồn sông Mekong, đặc biệt là thủy điện, chuyển nước khỏi lưu vực hệ thống đã làm suy giảm nhanh diện tích rừng, thảm thực bì, thay đổi quy luật dòng chảy và lượng phù sa khi vào đến địa phận vùng châu thổ của Việt Nam.

Những điểm bất hợp lý trong quá trình phát triển kinh tế nội tại của vùng bắt đầu bộc lộ như: canh tác nông nghiệp thâm canh chạy theo năng suất và số lượng, sử dụng nhiều phân bón vô cơ và hóa chất nông nghiệp dẫn đến ô nhiễm nguồn nước sông ngòi, khai thác sử dụng nước ngầm làm sụt lún đất, việc khai thác cát quá mức dẫn đến sạt lở bờ sông, bờ biển.

Hệ thống canh tác nông nghiệp cả trồng trọt và thủy sản đều chưa thích ứng tốt với các biến đổi của lũ và hạn mặn nên đã chịu nhiều thiệt hại.

Ông Mai Lam Phương ở thị trấn Cái Nước, huyện Cái Nước (tỉnh Cà Mau) đã trồng được thanh long trong nước mặn dưới tán rừng nuôi tôm theo hình thức quảng canh. Ảnh: Xây Ly

Phát triển bền vững, tôn trọng quy luật tự nhiên

Bộ NNPTNT cho biết, chương trình tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 324/QĐ-TTg ngày 02/03/2020, trong đó nhấn mạnh một số quan điểm chính như: Tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp quá mức vào tự nhiên.

Chủ động, tích cực thích ứng và tận dụng cơ hội từ BĐKH, coi nước mặn và nước lợ là nguồn tài nguyên cho phát triển. Xem xét các kịch bản cực đoan để chuẩn bị các giải pháp giải quyết tình huống khẩn cấp, đặc biệt là các kịch bản thiên tai có ảnh hưởng đến tính mạng con người.

Chương trình đưa ra 9 nhóm giải pháp thực hiện: Rà soát và điều chỉnh các quy hoạch vùng và tỉnh ĐBSCL theo hướng bền vững và thích ứng với BĐKH; Huy động đa dạng nguồn lực, thu hút đầu tư tư nhân theo cơ chế PPP. Đổi mới tổ chức sản xuất và phát triển chuỗi giá trị; Phát triển khoa học công nghệ; Nâng cao năng lực quản lý tài nguyên và môi trường; Phát triển nguồn nhân lực; Rà soát và xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù; Tăng cường liên kết vùng và tiểu vùng; Tăng cường hợp tác quốc tế…

Thay đổi tư duy an ninh lương thực dựa vào cây lúa, xoay trục chiến lược sang thủy sản-trái cây-lúa gạo phù hợp với thị trường, tuy nhiên phải dựa trên hệ thống canh tác đã hình thành và điều chỉnh dần trong tương lai…

Mục tiêu của chương trình nhằm tăng GDP nông nghiệp đạt trên 3%/năm đến năm 2030 và tiếp tục duy trì ở mức trên 3% đến 2045. Chất lượng cuộc sống của cư dân nông thôn được nâng cao, thu nhập bình quân đầu người/năm khu vực nông thôn đến 2030 tăng ít nhất 2 lần so với năm 2018 và đến 2045 tăng ít nhất 2,5 lần so với 2030. Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 30% tổng số lao động đến 2030 và xuống dưới 20% đến 2045. Tỷ lệ nông dân được đào tạo nghề nông nghiệp đạt trên 30% đến 2030 và trên 50% đến 2045.

Về mục tiêu môi trường, phấn đấu tỷ lệ sản lượng sản phẩm trồng trọt, thủy sản nuôi trồng được cấp chứng nhận sản xuất bền vững trên 20% đến 2030 và 50% đến 2045. Tỷ lệ cơ sở sản xuất chăn nuôi trên địa bàn xử lý chất thải bằng biogas hoặc các giải pháp công nghệ xử lý, sử dụng hiệu quả, sạch đạt 50% đến 2030 và 70% đến 2045. Tỷ lệ diện tích đất sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản được tưới tiêu hiện đại, thân thiện môi trường đạt trên 30% đến 2030 và 50% đến 2045, không còn sử dụng nước ngầm cho sản xuất. Tỷ lệ diện tích rừng sản xuất được quản lý bền vững có xác nhận đạt 50% đến 2030 và 80% đến 2045.

Giảm cường độ phát thải khí nhà kính từ sản xuất nông nghiệp/GDP nông nghiệp năm 2030 xuống 20% so với 2010 và năm 2045 xuống 40% so với 2010.

Kinh phí dự kiến thực hiện Chương trình tổng thể (không gồm nguồn vốn đầu tư) khoảng 17.500 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước: 5.500 tỷ đồng; vốn tư nhân 12.000 tỷ đồng.

“Đây là bài viết tuyên truyền về Truyền thông về xây dựng nông thôn mới năm 2020 thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông”.

Phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ

26/06/2020 09:40

 

GDVN- Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng vừa ký quyết định phê duyệt Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030.

Cụ thể, mục tiêu đến năm 2025, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 1,5 – 2% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp; diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng trên 1% tổng diện tích đất trồng trọt với các cây trồng chủ lực như: lúa, rau đậu các loại, cây ăn quả, chè, hồ tiêu, cà phê, điều, dừa…

Mục tiêu đề án, đến năm 2025, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 1,5 – 2% tổng diện tích nhóm đất nông nghiệp. Ảnh minh họa: hanoimoi.com.vn

Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 1 – 2% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong nước.

Các sản phẩm chăn nuôi được chứng nhận hữu cơ theo tiềm năng thế mạnh được ưu tiên như sữa, sản phẩm mật ong, sản phẩm yến sào, thịt gia súc gia cầm.

Diện tích nuôi trồng thủy sản hữu cơ đạt khoảng 0,5 – 1,5% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, trong đó một số loài thủy đặc sản có giá trị kinh tế như: tôm nước lợ, tôm càng xanh, các loài thủy sản bản địa…

Nâng cao hiệu quả của sản xuất hữu cơ trên một đơn vị diện tích; giá trị sản phẩm trên 1 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản hữu cơ cao gấp 1,3-1,5 lần so với sản xuất phi hữu cơ…

Nhiệm vụ chủ yếu đặt ra để đạt được các mục tiêu trên là phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ tập trung và các sản phẩm hữu cơ chủ lực; phát triển đa dạng các hình thức tổ chức sản xuất sản phẩm hữu cơ;

Nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp hữu cơ; phát triển các tổ chức chứng nhận, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn và quy trình kỹ thuật; tăng cường chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩn hữu cơ.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương triển khai thực hiện đề án;

Chủ động lồng ghép các mục tiêu, nhiệm vụ của đề án với các chương trình mục tiêu quốc gia và các đề án của các bộ, ngành và địa phương khác có liên quan; lựa chọn và xác định các yếu tố hoàn thiện mô hình thí điểm sản xuất nông nghiệp hữu cơ tại các địa phương theo danh mục đã phê duyệt;

Chỉ định các đơn vị có năng lực nghiên cứu, chứng nhận và liên kết chuỗi giá trị tham gia triển khai các mô hình thí điểm, xây dựng kế hoạch triển khai và từng bước nhân rộng mô hình; tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá và định kỳ hàng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ việc triển khai đề án.

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xác định sản phẩm lợi thế, lĩnh vực chủ lực, vùng có lợi thế về sản xuất hữu cơ, phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đề án, dự án phát triển nông nghiệp hữu cơ đáp ứng yêu cầu và phù hợp với tiêu chuẩn ngành nông nghiệp.

Xây dựng các cơ chế, chính sách đặc thù của địa phương như: đất đai, hạ tầng, giống, công nghệ sản xuất hữu cơ… phục vụ cho phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Bên cạnh đó, bố trí kinh phí từ ngân sách địa phương và huy động các nguồn vốn hợp pháp để thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn;

Thường xuyên tổ chức kiểm tra việc thực hiện đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ của địa phương, hàng năm tổng hợp báo cáo tình hình thực hiện đề án của địa phương gửi về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tổng hợp báo cáo Chính phủ.

Nhật Minh

Sản phẩm nông nghiệp chủ lực khó tìm đầu ra

SGGP Thứ Tư, 1/7/2020 09:14

Đây là thông tin được đưa ra tại hội thảo “Thuận lợi, khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm – giải pháp xây dựng thương hiệu hàng hóa đưa vào hệ thống bán lẻ” do Hội Nông dân TPHCM phối hợp Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TPHCM (ITPC) tổ chức ngày 30-6. 

Không chủ động được giá bán 

Tại TPHCM, sản xuất nông nghiệp đang chuyển dần từ nông nghiệp truyền thống sang sản xuất ứng dụng khoa học công nghệ cao. Sự thay đổi này đã góp phần cho nông nghiệp TPHCM có mức tăng trưởng duy trì bình quân hàng năm đạt 5,6%.

Trong 5 tháng đầu năm 2020, giá trị sản xuất nông ngư nghiệp đạt 5.081 tỷ đồng, tăng 2,2% so với cùng kỳ. Mới đây, UBND TPHCM đã phê duyệt Đề án chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” trên địa bàn vùng nông thôn TP. Trong đó, TP sẽ phát triển 6 sản phẩm nông nghiệp chủ lực đã được xác định và lựa chọn, bao gồm: rau, hoa cây kiểng, bò sữa, heo, tôm nước lợ và cá cảnh.

Đây là nhóm sản phẩm nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp TP, có xu hướng phát triển ổn định, tiềm năng mở rộng thị trường sản phẩm tiêu dùng, vừa sản xuất giống chất lượng cao cung ứng cho TP và các tỉnh.

Trồng lan tại huyện Củ Chi. Ảnh: CAO THĂNG

Theo nhận định của bà Cao Thị Phi Vân, Phó Giám đốc ITPC, trong bối cảnh TPHCM đang tập trung, ưu tiên phát triển một nền nông nghiệp đô thị chất lượng cao, việc phát triển các sản phẩm chủ lực này là một hướng đi mang tính chất dài hạn, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế – xã hội của TP, nhất là trực tiếp giúp nông dân làm giàu bền vững.

Trên thực tế, nhiều DN, nông dân, hợp tác xã (HTX) đang trực tiếp nuôi, trồng, chế biến các sản phẩm chủ lực nêu trên vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là khi đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trong khi đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp luôn là nỗi trăn trở của HTX và DN sản xuất nông nghiệp.

Ông Nguyễn Văn Tủi, Phó Giám đốc Trung tâm Dạy nghề và hỗ trợ nông dân – Hội Nông dân TPHCM, cho rằng, việc phát triển sản phẩm nông nghiệp chủ lực của TPHCM đang có những khó khăn. Tuy thành phố ưu tiên phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao mang lại giá trị kinh tế lớn, nhưng quỹ đất canh tác ít, chủ yếu là các nông hộ nhỏ lẻ, nên chi phí đầu tư cho việc canh tác ứng dụng công nghệ cao rất cao.

Mặt khác, việc hỗ trợ kết nối hình thành chuỗi liên kết sản xuất – phân phối các sản phẩm nông nghiệp chủ lực vẫn chưa phát huy tác dụng. Nguyên nhân chính là việc thu hút đầu tư xây dựng mới các trung tâm thương mại, siêu thị, chợ còn chậm.

Các DN chưa bảo đảm tiêu chí quy chuẩn về mẫu mã, bao bì sản phẩm, giấy chứng nhận và chất lượng theo yêu cầu nhà phân phối do quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển, phương thức thanh toán chưa hợp lý… gây nhiều khó khăn cho người sản xuất.

Theo tính toán, hiện sản lượng tiêu thụ rau, củ, quả trên địa bàn TP qua thương lái chiếm tỷ lệ trên 42% sản lượng sản xuất. Giá bán sản phẩm theo giá thị trường trong ngày, người sản xuất hoàn toàn không chủ động được giá bán. Hiện sản xuất rau tại TP chỉ đáp ứng 33,3% nhu cầu, số còn lại được cung ứng từ nhiều tỉnh, thành khác.

Sòng phẳng quan hệ cung – cầu 

Trước thực trạng trên, các ý kiến tại hội thảo đều cho rằng, việc đề ra các giải pháp giúp tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp chủ lực là rất cần thiết, cấp bách. Số liệu từ Liên hiệp HTX Thương mại TPHCM – Saigon Co.op – cho thấy, trong năm 2019, mới chỉ có 17 hợp đồng thương mại giữa Saigon Co.op ký với các HTX, DN TPHCM để tạo nguồn cung ổn định cho đơn vị này.

Thực tế cũng cho thấy, không ít các DN, HTX còn có tâm lý e ngại tiếp cận với các hệ thống phân phối hiện đại. Chủ một nông trại nấm ở huyện Nhà Bè cho biết, hiện nay nông trại của ông có quy mô 150.000 phôi nấm. Vì là hộ cá thể nên lâu nay hàng hóa làm ra chỉ cung ứng cho các nhà hàng, cửa hàng và bán cho bạn hàng ở chợ đầu mối. Người chủ này không biết đàm phán ra sao, sẽ qua những khâu nào, làm sao thu mua, tiền bạc thanh toán như thế nào, nếu tiếp cận hệ thống phân phối hiện đại.

Tại hội thảo, bà Nguyễn Thanh Phượng, Phụ trách thu mua nông sản của Saigon Co.op đề xuất, các HTX, DN nuôi trồng, ngoài việc chọn lọc sản phẩm đầu tư theo xu hướng tiêu dùng, nên phân khu vực nuôi trồng ra thành vườn nhỏ để kinh doanh cho kênh siêu thị, khắc phục tình trạng yêu cầu siêu thị thu mua cả vườn với sản lượng lớn một lần, chưa phù hợp với nhu cầu của kênh phân phối lẻ.

Các đơn vị cần có sự cam kết về lượng và bảo đảm chất lượng hàng hóa đạt tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, không thu gom các nguồn hàng không đạt tiêu chuẩn hoặc không rõ nguồn gốc. Đồng thời, áp dụng kỹ thuật công nghệ, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch nhằm kiểm soát an toàn thực phẩm, đáp ứng nguồn hàng ổn định vào mùa mưa.

Ở góc độ nhà sản xuất, với 13 ý kiến phát biểu tại hội thảo, hầu hết đều cho rằng, mối quan hệ cung – cầu hàng hóa bất bình đẳng đã diễn ra từ nhiều năm qua, gây nản lòng các nhà sản xuất.

Nguyên nhân chính là chúng ta đang có quá nhiều các nhà sản xuất hàng hóa ở dạng nhỏ, lẻ nên năng lực tổ chức sản xuất và cung ứng có hạn. Trong khi đó, hệ thống phân phối kinh doanh theo chuỗi vẫn chưa phát triển đúng tầm, nên trong quan hệ, các nhà phân phối vẫn ở thế “kèo trên”.

Tình trạng “xin – cho” vẫn diễn ra khá phổ biến trong việc đưa hàng hóa vào siêu thị. Có không ít trường hợp, nhà sản xuất đã đầu tư, cải tiến để đáp ứng tốt nhất yêu cầu từ phía nhà phân phối, song vẫn không đạt hiệu quả kinh tế như mong muốn.

Các ý kiến tại hội thảo cho biết: Nhà sản xuất thì cần nơi để bán hàng, còn nhà phân phối cần có hàng hóa để bán, do vậy cung cầu phải được đặt trên sự công bằng và tôn trọng lẫn nhau thì mối quan hệ mới phát triển bền vững. Trên thực tế, người đứng đầu tại nhiều hệ thống phân phối rất cởi mở nhưng khi xuống dưới, nhiều nhân viên đã không đặt sự công bằng lên hàng đầu. Cùng sản phẩm nhưng đơn vị này có thể đưa vào, DN khác thì bị đưa ra, do những tiêu chí rất ngặt nghèo, khiến nhà sản xuất nản lòng. Do vậy, bản thân các hệ thống phân phối phải làm việc lại với chính cấp dưới của mình nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các DN tiếp cận bình đẳng. 

Trong quá trình hợp tác, các siêu thị cần chấm điểm cho các nhà cung cấp, cải tiến phương thức thanh toán từ ký gửi sang “mua đứt, bán đoạn” để tạo điều kiện cho DN đầu tư, nâng cấp và phát triển sản phẩm mới. Chỉ như vậy, sản xuất mới phát triển và cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường.

THÚY HẢI

Bước đột phá cho ngành Nông nghiệp

QUỲNH DUNGdientu@hanoimoi.com.vn

06:29 thứ tư ngày 12/08/2020

(HNM) – Để thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp, đáp ứng đòi hỏi mới về lương thực, thực phẩm của người dân Thủ đô trong bối cảnh hiện nay, ngày 7-8-2020, UBND thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch cơ cấu lại ngành Nông nghiệp giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030. Trên cơ sở phát huy thế mạnh và những đặc thù riêng có của Hà Nội, việc tái cơ cấu sẽ tạo bước đột phá cho ngành Nông nghiệp Thủ đô, giúp nâng cao giá trị sản xuất và thu nhập cho nông dân.

Cần có thêm chính sách để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn Thủ đô. Trong ảnh: Sản xuất nấm kim châm tại Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao (huyện Mỹ Đức). Ảnh: Bá Hoạt

Hiệu quả nhưng chưa có bước đột phá

Thực hiện tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Thủ đô theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, nhiều mô hình trang trại gắn với du lịch sinh thái, du lịch trải nghiệm đã hình thành ở một số địa phương.

Giám đốc Hợp tác xã Hoa, cây cảnh dịch vụ Hồng Vân (huyện Thường Tín) Nguyễn Văn Tứ cho biết, với gần 10ha trồng hoa, cây cảnh, nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn VietGAP, kết hợp với du lịch sinh thái, mỗi năm hợp tác xã đón khoảng 20.000 lượt khách tham quan, trải nghiệm mang lại thu nhập cao.

Trong khi đó, ông Nguyễn Hữu Cường, chủ mô hình trồng hoa công nghệ cao tại xã Đại Đồng (huyện Thạch Thất) cho biết: “Với diện tích 2ha chuyển đổi từ đất trồng lúa sang trồng hoa công nghệ cao (hoa đồng tiền, cúc…) mỗi năm gia đình tôi thu nhập hơn 1 tỷ đồng”.

Đánh giá về hiệu quả từ tái cơ cấu ngành Nông nghiệp trên địa bàn, Trưởng phòng Kinh tế huyện Thạch Thất Hoàng Chí Lượng cho biết, huyện đã hình thành 121 mô hình chuyển đổi cho hiệu quả kinh tế cao như nuôi lợn rừng kết hợp nuôi giun trùn quế và trồng rau hữu cơ, rau bản địa dưới tán rừng cho thu nhập 3-5 tỷ đồng/ha/năm; vùng sản xuất rau hữu cơ, rau an toàn (diện tích 200ha) thu nhập 333-445 triệu đồng/ha/năm…

Theo đánh giá của Sở NN&PTNT Hà Nội, giai đoạn 2017-2020, mặc dù đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhưng cơ cấu ngành Nông nghiệp Hà Nội đã có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng lĩnh vực thủy sản, dịch vụ nông nghiệp tăng, tỷ trọng lĩnh vực trồng trọt giảm… Đặc biệt, đã hình thành một số chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Nhờ vậy, kinh tế nông nghiệp tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 2017-2020 là gần 2,5%; giá trị canh tác đạt 280 triệu đồng/ha/năm, tăng 21 triệu đồng so với năm 2017.

Phó Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Nguyễn Xuân Đại cho biết, bên cạnh những kết quả đạt được, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2017-2020 vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Thủ đô. Cụ thể, sản xuất nông nghiệp còn manh mún, nhỏ lẻ; việc thu hút đầu tư vào lĩnh vực này còn thấp, đặc biệt là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong khi cơ chế, chính sách phát triển sản xuất nông nghiệp chưa đủ mạnh, thiếu tính đột phá để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp…

Thực hiện đồng bộ các giải pháp

Trang trại chăn nuôi lợn theo tiêu chuẩn VietGAP tại xã Nguyên Khê (huyện Đông Anh). Ảnh: Đỗ Tâm

Thực tế, việc tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Thủ đô đang đặt ra nhiều thách thức đòi hỏi các cấp, ngành chức năng phải vào cuộc một cách quyết liệt để đạt hiệu quả đề ra. Giám đốc Công ty TNHH Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao (huyện Mỹ Đức) Dương Thị Thu Huệ cho biết: Để xây dựng nhà máy sản xuất nấm kim châm ứng dụng công nghệ của Nhật Bản, công ty đầu tư máy móc, thiết bị, cơ sở vật chất khoảng 60 tỷ đồng. Với số tiền như vậy, nếu không có chính sách khuyến khích thì không phải doanh nghiệp nào cũng dám đầu tư.

Theo Phó Giám đốc Công ty TNHH Ba Huân Phạm Thanh Hùng, khó nhất đối với doanh nghiệp là quỹ đất sạch để xây dựng mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Vì thế, rất mong chính quyền các cấp tuyên truyền, vận động người dân ủng hộ doanh nghiệp trong tích tụ ruộng đất phục vụ sản xuất, kinh doanh.

Về vấn đề này, Phó Chủ tịch UBND huyện Ứng Hòa Nguyễn Chí Viễn cho biết, huyện sẽ thực hiện việc dồn ghép ruộng đất, khuyến khích người dân không có nhu cầu sản xuất ký hợp đồng cho thuê dài hạn hoặc góp đất với hợp tác xã, doanh nghiệp để đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng.

Theo Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ, để thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp, đáp ứng yêu cầu của thị trường Thủ đô và hướng tới xuất khẩu, Kế hoạch cơ cấu lại ngành Nông nghiệp thành phố Hà Nội giai đoạn 2021-2025 định hướng đến năm 2030 đề ra mục tiêu: Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp hữu cơ… Trên cơ sở những thế mạnh và đặc thù riêng, Hà Nội sẽ phát triển nông nghiệp sạch, nông nghiệp sinh thái gắn với du lịch, thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đặc sản và sản phẩm làng nghề.

Để đạt được mục tiêu theo kế hoạch, Giám đốc Sở NN&PTNT Hà Nội Chu Phú Mỹ cho biết, dựa trên tiềm lực và nền tảng hiện tại, Hà Nội sẽ cơ cấu lại tất cả các lĩnh vực. Trong trồng trọt, sẽ cơ cấu lại một số cây trồng chính như phát triển sản xuất lúa gạo (tập trung vào giống lúa Japonica phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu); mở rộng diện tích trồng rau, đậu các loại, cây ăn quả; phát triển vùng rau an toàn quy mô lớn 20-25ha trở lên… Về chăn nuôi, tập trung phát triển theo hướng bền vững, an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn dịch bệnh… Ngoài ra, ngành Nông nghiệp Thủ đô sẽ phối hợp với các sở, ngành đề xuất chính sách, giải pháp, xây dựng các mô hình tập trung, tích tụ ruộng đất nông nghiệp, tạo tiền đề để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất, chế biến sản phẩm nông nghiệp, đồng thời đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm.

Với sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết liệt, chắc chắn việc cơ cấu lại ngành Nông nghiệp theo kế hoạch của UBND thành phố sẽ tạo ra bước đột phá mới đáp ứng yêu cầu phát triển của Thủ đô.

Ấn Độ cảnh báo hồ tiêu Việt Nam không đạt chất lượng

SGGPO Thứ Ba, 11/8/2020 18:22

Chiều tối 11-8, văn phòng Bộ Công thương thông tin: do có cáo buộc hạt tiêu Việt Nam xuất sang Ấn Độ không đáp ứng được tiêu chuẩn có 6% hàm lượng piperine tối thiểu như quy định, nên cơ quan chức năng của Ấn Độ sẽ xem xét lại việc nhập hồ tiêu Việt Nam.

Bộ Công thương vừa nhận được phản ánh của Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ về việc hội người trồng tiêu tại các bang phía nam Ấn Độ cho rằng, hàm lượng piperine có trong “hạt tiêu đen nhẹ” – light black pepper (mã HS 09041120) nhập khẩu từ Việt Nam không đáp ứng được tiêu chuẩn và yêu cầu tại Thông báo số 21/2015-2020 ngày 25-7-2018 điều chỉnh quy định về điều kiện nhập khẩu tiêu vào thị trường Ấn Độ của Tổng cục Ngoại thương Ấn Độ.

Hồ tiêu đang được giá cao nhưng Bộ Công thương đề nghị các doanh nghiệp Việt Nam cần kiểm soát tốt về chất lượng hàng xuất khẩu. Ảnh theo Báo Gia Lai

Ngoài ra, tại bài báo đăng trên trang The Hindu Business Line, Liên minh thương nhân, người trồng tiêu và gia vị tại khu vực Kerala đã có văn bản gửi Chính phủ Ấn Độ cho rằng: Hạt tiêu đen nhẹ của Việt Nam không đạt được hàm lượng tối thiểu 6% như tiêu chuẩn. Hạt tiêu của Việt Nam được gửi cho phòng thí nghiệm của ban gia vị – cơ quan thuộc Bộ Công thương Ấn Độ để xét nghiệm đã bị tráo đổi.

Căn cứ những thông tin nêu trên, ban gia vị – cơ quan thuộc Bộ Công thương Ấn Độ có khả năng sẽ tiến hành xem xét liệu hàm lượng piperine tối thiểu có trong hạt tiêu của Việt Nam có đáp ứng được mức 6% như tiêu chuẩn yêu cầu mà Tổng cục Ngoại thương Ấn Độ đề ra trước đó hay không.

“Động thái này có thể sẽ ảnh hưởng đến uy tín của hạt tiêu Việt Nam nói chung, gây bất lợi doanh nghiệp xuất khẩu hạt tiêu nói riêng”, văn phòng Bộ Công thương thông tin.

Liên quan tới vấn đề này, Bộ Công thương Việt Nam đang phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Ấn Độ để làm rõ thông tin và yêu cầu phía bạn không đưa ra các biện pháp chính sách bất lợi đối với hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hạt tiêu của hai nước.

Tuy nhiên, để giảm thiểu các rủi ro trong hoạt động kinh doanh với thị trường Ấn Độ, Bộ Công thương đề nghị các hiệp hội thông báo rộng rãi đến các doanh nghiệp liên quan để nắm thông tin, kiểm soát chất lượng hồ tiêu xuất khẩu và có biện pháp ứng phó trong trường hợp Ấn Độ đưa ra biện pháp chính sách đột ngột gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang Ấn Độ.

VĂN PHÚC

Cơ hội với hạt gạo Việt Nam

SGGP Thứ Hai, 10/8/2020 08:51

Bước sang tháng 8-2020, giá gạo xuất khẩu của Thái Lan và Ấn Độ đều tăng. Nhưng Việt Nam mới là nước có những gam sáng trong xuất khẩu gạo rõ nét. Theo các chuyên gia lúa gạo, khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo đều tăng trưởng, Việt Nam sẽ vượt Thái Lan vươn lên vị trí xuất khẩu gạo số 1 thế giới trong năm 2020. Vấn đề hiện nay là xác lập, khẳng định thương hiệu gạo Việt trên thương trường.

Cánh đồng sản xuất lớn hình thành ở ĐBSCL

Tiếp cận thị trường khó tính

Đầu tháng 8-2020, Hiệp định Thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam (EVFTA) chính thức có hiệu lực. Đây là cánh cửa mở ra rất nhiều cơ hội cho doanh nghiệp (DN) Việt Nam xuất khẩu vào thị trường EU.  Theo đó, mặt hàng gạo của Việt Nam sẽ được miễn thuế xuất khẩu vào EU (80.000 tấn gạo được hưởng ưu đãi thuế). Tại ĐBSCL, Công ty Trung An (Cần Thơ) là một trong những DN xuất khẩu ở phân khúc gạo thơm, chất lượng cao vào các thị trường khó tính. “EVFTA có hiệu lực là một cơ hội hiếm có cho DN xuất khẩu gạo Việt Nam. Nhiều năm qua, công ty đã liên kết với nông dân sản xuất khoảng 7.000ha lúa (khoảng 150.000 tấn gạo) theo các quy trình an toàn, đáp ứng các thị trường khó tính” – ông Phạm Thái Bình, Giám đốc Công ty Trung An cho biết.

Trong năm 2020, công ty sẽ phấn đấu đạt ngưỡng xuất khẩu 80.000 tấn gạo thơm phẩm cấp cao. Giá gạo thơm xuất khẩu của Trung An hiện nay là mơ ước của nhiều DN khi đạt mức giá bình quân 700 – 900 USD/tấn, trong đó gạo xuất khẩu sang Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Mỹ… có giá cao nhất lên 1.500 USD/tấn.

Hiện tại giá lúa ở ĐBSCL ổn định ở mức cao, trên 5.000 đồng/kg lúa thường và trên 6.000 đồng/kg lúa chất lượng cao. Song, giá gạo trong nước tăng mạnh trong những tuần gần đây do giới thương nhân đang găm hàng. Trong 7 tháng đầu năm 2020, Việt Nam xuất khẩu gần 3,9 triệu tấn gạo, đạt giá trị 1,9 tỷ USD, tăng 10,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2019. Dự báo, Việt Nam sẽ vượt Thái Lan vươn lên vị trí xuất khẩu gạo số 1 thế giới ngay trong năm 2020.

Theo ông Phạm Thái Bình, Công ty Trung An đang nỗ lực thực hiện chuỗi sản xuất lúa gạo theo các quy trình an toàn thực phẩm tiên tiến, đáp ứng nhu cầu từ các thị trường khó tính. Công ty không cần chính sách ưu đãi mà chỉ cần cơ chế để DN tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, mở rộng quy mô liên kết với nông dân sản xuất lúa từ 7.000ha hiện nay lên khoảng 20.000ha trong vài năm tới.

Tạo vùng gạo có tiếng trên bản đồ thế giới

Ngoài các thị trường truyền thống, gạo Việt Nam đang có cơ hội tiếp cận rộng hơn ở thị trường EU khi EVFTA đã có hiệu lực. Tuy nhiên, theo một số DN, gạo Việt Nam xuất hiện rất ít, thậm chí là hiếm ở các siêu thị khối EU. Gạo Thái Lan và Campuchia hiện tại vẫn chiếm ưu thế ở thị trường này. Chất lượng gạo Việt Nam hiện đã được nâng tầm. Tuy nhiên, theo một DN xuất khẩu gạo ở ĐBSCL, điểm yếu lâu nay của gạo Việt Nam là làm chưa tốt việc quảng bá thương hiệu, quy trình sản xuất và số lượng cung cấp gạo phẩm cấp cao thiếu bền vững.

Theo kỹ sư Hồ Quang Cua (người có công lai tạo giống lúa ST), từ khi gạo ST 25 đạt giải gạo ngon nhất thế giới thì xu hướng sử dụng gạo có thương hiệu ở Việt Nam tăng lên, khả năng xuất khẩu gạo an toàn sang thị trường Mỹ rất dễ dàng. Hiện giống lúa ST 24 và ST 25 đã có sự chuyển đổi phù hợp ứng phó với mặn xâm nhập. Giống lúa ST 24, ST 25 đang là sự lựa chọn khôn ngoan của hàng ngàn nông dân vùng bán đảo Cà Mau. Ông Trương Văn Chệt, ở thị xã Ngã Năm (Sóc Trăng) trồng 1ha lúa ST 24 theo hướng hữu cơ. Ngoài giảm chi phí từ 2,5 – 3,6 triệu đồng/ha (tùy vụ) thì việc sản xuất theo hướng hữu cơ giúp đất được cải tạo tốt, hạt lúa sáng, chắc, no… Đặc biệt là lúa có đầu ra ổn định, khi có DN bao tiêu luôn đầu ra sau thu hoạch.

Tại thị trường nội địa, giá gạo ST 25, ST 24 đang ở ngưỡng 30.000 đồng/kg (quy ra trên 1.300 USD/tấn). Chất lượng gạo ST 24, ST 25 đã được khẳng định. Đây sẽ là bước ngoặt để thương hiệu gạo Việt khẳng định trên thị trường thế giới, nếu xây dựng được vùng nguyên liệu, gắn với quy trình sản xuất an toàn. Kỹ sư Hồ Quang Cua đề xuất: “Chúng ta cần xây dựng sản xuất lúa thơm ST ở vùng lúa – tôm của cả bán đảo Cà Mau. Đây sẽ là một vùng có tiếng trên bản đồ sản xuất gạo thế giới. Cơ sở của việc này là ở khả năng xuất khẩu gạo an toàn sang thị trường Mỹ và châu Âu rất dễ dàng. Chúng tôi đề xuất sản xuất lúa thơm ở vùng lúa tôm này theo hướng an toàn và các chương trình sản xuất lúa ở đây chúng ta cố gắng hạn chế hóa chất”.

Nhiều cơ hội đang mở ra với hạt gạo Việt Nam, vấn đề là chính quyền địa phương cần có chính sách hỗ trợ sự liên kết giữa DN và nông dân, tạo ra “vùng gạo có tiếng trên bản đồ thế giới”, như mong muốn của kỹ sư Hồ Quang Cua.

CAO PHONG

Hà Nội kêu gọi đầu tư vào các dự án nông nghiệp công nghệ cao

Cập nhật: 08:17 | 20/08/2020

Hà Nội đang kêu gọi đầu tư vào các dự án nông nghiệp công nghệ cao; đồng thời gỡ vướng về đất đai, chính sách, thủ tục hành chính nằm tạo sức hút với các nhà đầu tư.

Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao

Ông Chu Phú Mỹ, GĐ Sở NN&PTNT TP Hà Nội cho biết, những năm qua, nhờ đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, Hà Nội đã tiếp nhận, chuyển giao thành công nhiều giống cây trồng, vật nuôi cho giá trị gia tăng cao, góp phần tạo đột phá trong sản xuất nông nghiệp.

Như mô hình sản xuất nấm công nghệ cao của Cty TNHH Xuất nhập khẩu Kinoko Thanh Cao, huyện Mỹ Đức. Cty đã đầu tư gần 70 tỷ đồng xây dựng nhà máy sản xuất và đóng gói nấm kim châm sạch theo công nghệ hiện đại của Nhật Bản, với quy mô hơn 3.000m2, sản lượng đạt 30 tấn/tháng, mang lại doanh thu 1,8 – 2 tỷ đồng/tháng. Bên cạnh đó còn có mô hình trồng hoa, sản xuất giống hoa nuôi cấy mô của Cty CP Vật tư và giống cây trồng Hà Nội, vốn đầu tư hơn 8 tỷ đồng để xây dựng phòng nuôi cấy mô và 7 ha trồng hoa ứng dụng công nghệ hiện đại tại huyện Mê Linh và Sóc Sơn.

Đây là hai trong rất nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao của Hà Nội. Theo ông Chu Phú Mỹ, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã mang lại kết quả rất tốt. Vì thế, lĩnh vực này vẫn đang được TP chú trọng đầu tư, phát triển. Mới đây, Sở NN&PTNT TP Hà Nội đã công bố danh sách 11 dự án kêu gọi đầu tư trực tiếp giai đoạn 2019 – 2025, tập trung các huyện ngoại thành, trong đó có 7 dự án sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, với tổng vốn đầu tư 5.200 tỷ đồng.

Hiện Hà Nội có 129 DN đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, cùng một số mô hình công nghệ cao do các HTX và cá nhân triển khai thực hiện, song các mô hình mới dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ từng phần, chưa phát huy hết tiềm năng.

Khó khăn về quỹ đất để đầu tư

Về lý do dẫn đến những hạn chế trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao, ông Nguyễn Xuân Trường, GĐ Cty CP Vật tư và giống cây trồng Hà Nội chia sẻ, vướng mắc lớn nhất hiện nay đối với các DN, cá nhân, tổ chức đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao là nguồn vốn và quỹ đất. Cụ thể, để đầu tư cho 1 ha đất ứng dụng công nghệ cao, DN cần vốn khoảng 2 tỷ đồng. Để phát triển vùng nguyên liệu và xây dựng nhà máy sản xuất các sản phẩm chế biến, cần thêm 6 – 10 ha, nên nhiều DN rất khó có quỹ đất để đầu tư.

Để giải quyết vướng mắc, ông Chu Phú Mỹ cho biết, TP đang từng bước tháo gỡ khó khăn về đất đai và nguồn vốn ở những cấp độ khác nhau qua Chương trình Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao giai đoạn 2016 – 2020. Hà Nội sẽ có các giải pháp hỗ trợ DN, HTX, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình có dự án, phương án đầu tư để phát triển sản xuất giống, quy trình sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản ứng dụng công nghệ cao… Ngoài các chính sách hỗ trợ của TP và địa phương, DN cần chủ động vận dụng chính sách hỗ trợ từ Chính phủ, như gói vay 100.000 tỷ đồng cho nông nghiệp công nghệ cao.

(Văn phòng Điều phối xây dựng nông thôn mới thành phố Hà Nội)

11 dự án ở Hà Nội kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2019 – 2025, trong đó có dự án nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các xã: An Thượng, Song Phương (huyện Hoài Đức), quy mô 668 ha, dự kiến vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng; dự án nông nghiệp công nghệ cao xã Hiền Ninh (huyện Sóc Sơn) quy mô 120 ha, dự kiến vốn đầu tư 350 tỷ đồng; dự án nông nghiệp công nghệ cao ở các xã: Thanh Xuân, Tân Dân (huyện Sóc Sơn) quy mô 70 ha, dự kiến vốn đầu tư 150 tỷ đồng.

Sở NN&PTNT Hà Nội cũng đề xuất dự án khu giết mổ gia súc tập trung tại các xã: Quang Lãng, Tri Thủy (huyện Phú Xuyên); dự án khu giết mổ gia súc ở thôn Tri Lai, xã Đồng Thái (huyện Ba Vì); dự án khu giết mổ gia súc, gia cầm tại xã Trạch Mỹ Lộc (huyện Phúc Thọ); dự án khu giết mổ gia súc, gia cầm xã Minh Phú (huyện Sóc Sơn)…

 

 

Đỗ Phương

Nông nghiệp ĐBSCL tăng trưởng nhưng vẫn lo

SGGP Thứ Bảy, 15/8/2020 10:17

Với diện tích khoảng 3,94 triệu ha, chiếm 12% diện tích cả nước, những năm qua ĐBSCL là vùng sản xuất và xuất khẩu lúa gạo, thủy sản, trái cây đứng đầu cả nước. Tuy nhiên, với sự tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan khiến sản xuất nông nghiệp bị ảnh hưởng, tìm hướng phát triển bền vững, thích ứng với tự nhiên là vấn đề cấp bách đặt ra.

Mô hình sản xuất nông nghiệp thuận theo tự nhiên ở Cồn Chim (huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh)

5 ngành hàng thế mạnh để đầu tư

Thống kê của Bộ NN-PTNT cho thấy, năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu nông sản ĐBSCL đạt trên 8,5 tỷ USD, chiếm 56,7% kim ngạch xuất khẩu chung của vùng và chiếm 20,1% kim ngạch xuất khẩu nông sản của cả nước; trong đó gạo chiếm 80% kim ngạch gạo của cả nước, cá tra chiếm 95%, tôm chiếm 60% và trái cây chiếm 65%…

Ông Nguyễn Văn Dương, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp, bộc bạch: “Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của địa phương, vì vậy những năm qua Đồng Tháp đã tiên phong thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp đáp ứng theo tình hình mới. Tỉnh xác định 5 ngành hàng thế mạnh để đầu tư là lúa gạo, hoa kiểng, xoài, cá tra và nuôi vịt. Tất cả được quy hoạch bài bản, thay đổi phương thức sản xuất; tăng cường hợp tác, liên kết thị trường nhằm giảm chi phí, tăng chất lượng và đẩy mạnh khâu chế biến để nâng giá trị sản phẩm. Nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, nông nghiệp sạch… đã mở ra hướng tiếp cận mới, thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0. Nhờ đó mà từ đầu năm 2020 đến nay, giá trị sản xuất ngành trồng trọt của tỉnh đạt hơn 13.176 tỷ đồng, tăng 508 tỷ đồng so với cùng kỳ…”.

Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho hay: “Hàng năm, tỉnh sản xuất khoảng 625.000ha lúa, hơn 54.700ha rau màu các loại, 18.000ha cây ăn trái và nuôi thủy sản với sản lượng khoảng 532.000 tấn/năm… Hầu hết được khuyến khích sản xuất theo hướng liên kết, ứng dụng các mô hình VietGAP, công nghệ cao để nâng chất lượng và giá trị sản phẩm. Chính điều này đã giúp mức tăng của khu vực nông lâm thủy sản trong năm vừa qua đạt 2,65%, cao hơn kế hoạch đề ra”.

Tuy vậy, cùng với những mặt được trên thì trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và tác động của biến đổi khí hậu, khiến nông nghiệp vùng ĐBSCL đang gặp khó khăn, đứng trước thách thức lớn, cần có giải pháp ứng phó phù hợp.

Nhanh chóng thay đổi

Sở NN-PTNT các tỉnh ĐBSCL cho rằng, dù đã đánh giá sớm tình hình hạn mặn 2019-2020 gay gắt và triển khai nhiều giải pháp ứng phó. Tuy nhiên, toàn vùng vẫn có khoảng 41.900ha lúa đông xuân thiệt hại; 6.650ha cây ăn trái bị ảnh hưởng; hàng ngàn hécta rau màu và hơn 8.715ha nuôi trồng thủy sản bị thiệt hại; 96.000 hộ thiếu nước ngọt sinh hoạt; sạt lở, sụp lún xảy ra tràn lan ở ĐBSCL… Điều này cho thấy thiên tai khó lường và chúng ta phải nhanh chóng thay đổi để thích ứng.

Ông Bùi Văn Lâm, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Bến Tre, băn khoăn: “Hiện nay, vùng ĐBSCL chưa có cơ chế điều phối việc sử dụng nguồn nước sông Mê Công nhằm góp phần hạn chế, giảm nhẹ thiệt hại do hạn mặn gây ra. Do đó, chúng tôi kiến nghị Trung ương xem xét ban hành cơ chế, chính sách nhằm sử dụng hiệu quả nguồn nước; đồng thời đầu tư xây dựng các hồ chứa nước ngọt cũng như hệ thống cung cấp nước thô ổn định, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của người dân”. Lãnh đạo UBND tỉnh Cà Mau kiến nghị Bộ NN-PTNT, Bộ TN-MT và các ngành liên quan sớm hỗ trợ tỉnh khảo sát, nghiên cứu và điều chỉnh quy hoạch về sản xuất ở Cà Mau phù hợp tình hình mới; trong đó có vùng ngọt hóa thường xuyên xảy ra ngập úng vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô. Đồng thời nghiên cứu bảo tồn hệ sinh thái đặc trưng rừng U Minh Hạ thích ứng với tác động của biến đổi khí hậu. Cà Mau sẽ nhanh chóng nghiên cứu, chọn các giống cây trồng thích ứng điều kiện thời tiết cực đoan, chống chịu được hạn mặn. Ngoài ra, khẩn trương nâng cấp đê bao, cơ sở hạ tầng, thủy lợi, phục vụ tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp.

Theo Bộ NN-PTNT, để phát triển nông nghiệp ĐBSCL thích ứng với những thay đổi về điều kiện tự nhiên và thị trường cần tập trung xử lý các yếu tố nội tại, cùng với tài nguyên, con người, tiến bộ khoa học – công nghệ… Tới đây, cần ưu tiên phát triển chế biến và thương mại trong chuỗi giá trị nông nghiệp; trong nghiên cứu ứng dụng khoa học – công nghệ tập trung giải quyết 3 nội dung là giống, thức ăn và chế biến. Phấn đấu đến năm 2025, xác định được bộ giống tốt nhất, thích ứng biến đổi khí hậu cho 3 ngành hàng chủ lực (thủy sản, cây ăn trái, lúa gạo). Đến năm 2030, làm chủ nguồn giống trong nước và vươn tầm ra thế giới. 

HUỲNH LỢI

Tận dụng EVFTA để vượt qua thách thức đại dịch

Cập nhật: 07:03 | 11/08/2020

Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) đã chính thức có hiệu lực từ ngày 1-8-2020 trong bối cảnh làn sóng dịch Covid-19 bùng phát lần thứ hai ở cả Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU).

Dù có những trở ngại nhất định nhưng các chuyên gia đều nhận định, EVFTA có hiệu lực đúng thời điểm, là động lực duy trì, tạo cơ sở cho sự hồi phục và phát triển nhanh cho nền kinh tế hai bên ngay sau khi đại dịch được khống chế.

Việt Nam là một thành công trong ứng phó với đại dịch Covid-19 thì DN Việt Nam cũng có thể là một ví dụ về thành công trong kinh doanh giữa mùa dịch. Trong bối cảnh đó EVFTA với những ưu đãi nên được xem là yếu tố hỗ trợ.

Điều tiên quyết ở đây vẫn phải đi từ nội lực doanh nghiệp (DN) và quyết tâm đổi mới chính mình. Hơn lúc nào hết, các DN cần phải thay đổi tư duy tiếp cận toàn cầu, nỗ lực chủ động nâng cao năng lực sản xuất nội tại, cải thiện khả năng tham gia thương mại quốc tế để nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức, chinh phục thành công thị trường EU, tiến sâu vào chuỗi giá trị quốc tế.

EVFTA có hiệu lực thực thi trong bối cảnh dịch bệnh và biến động thị trường hết sức phức tạp và khó lường, được kỳ vọng mang lại nhiều cơ hội to lớn cho cả EU và Việt Nam, tạo động lực mới vực dậy xuất khẩu, tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư đi vào chiều sâu, hướng tới phát triển bền vững.

Tuy nhiên, đây chỉ là hành lang pháp lý, là con đường cao tốc mà để đi được nhanh, đi được đến đích, điều kiện tiên quyết vẫn phải là sự quyết tâm và là nỗ lực tự đổi mới của chính các DN.

Thay đổi tư duy sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế là con đường duy nhất để DN phát triển.

Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Hoàng Quốc Vượng, phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, EVFTA không thể hoàn toàn là cứu cánh. Những ưu đãi từ hiệp định chỉ được xem là yếu tố hỗ trợ. Điều kiện tiên quyết vẫn phải là nội lực và quyết tâm đổi mới của DN.

Do vậy, hơn lúc nào hết, các DN cần phải thay đổi tư duy tiếp cận toàn cầu, nỗ lực chủ động nâng cao năng lực sản xuất nội tại, cải thiện khả năng tham gia thương mại quốc tế để nắm bắt thời cơ, tận dụng những lợi thế mà EVFTA và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA) mang lại, vượt qua thách thức, từ đó trụ vững và phát triển trên thị trường, tiến sâu vào chuỗi giá trị quốc tế.

Các chuyên gia kinh tế nước ngoài cũng cho rằng, các lãnh đạo của Việt Nam và EU đã cung cấp công cụ pháp lý để một lần nữa mở ra làn sóng thương mại và đầu tư, nhưng cuối cùng chính các DN Việt Nam và EU mới là người quyết định làm cho hiệp định thương mại tự do này thành công.

Trước nhận định Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và đi trước các nước ASEAN khác từ 5-7 năm, Vụ trưởng Vụ Thị trường châu Âu – châu Mỹ, Bộ Công thương, ông Tạ Hoàng Linh lưu ý các DN Việt Nam không nên quá chủ quan và tự mãn. Vì các nước khác, các đối thủ cạnh tranh của Việt Nam cũng đang rất tích cực để đàm phán hiệp định thương mại tự do với các nước châu Âu, với Anh và với EU.

Và EU cũng đang có những động thái đàm phán với các nước trong ASEAN như Malaysia, Thái Lan, thậm chí là Myanmar.

“Chúng ta có lợi thế hơn các nước khác trong khu vực là đi trước, nhưng lợi thế ấy có thể không kéo dài, vì các nước cũng đang tìm cách đuổi kịp và xây dựng các biện pháp khuyến khích tích cực để có những lợi thế ngang bằng trong tương lai. Nên đây là thời điểm mà các DN cần hết sức tích cực, chủ động phát huy lợi thế mà chúng ta đang có”, ông Tạ Hoàng Linh nhấn mạnh.

Cung cấp một thông tin có liên quan để các DN Việt Nam cần lưu ý hơn, ông Nguyễn Cảnh Cường, Tham tán thương mại tại Vương quốc Anh, cho biết để chuẩn bị kịch bản hậu Brexit, Anh đang tiến hành đàm phán 20 hiệp định thương mại tự do với các nước khác; trong đó, những đối thủ cạnh tranh rất mạnh với hàng hóa của Việt Nam như Trung Quốc, Nhật, trong khi để ngỏ khả năng đàm phán hiệp định thương mại tự do song phương với Việt Nam.

Đặc biệt mới đây, phía Anh tuyên bố sẽ đàm phán hiệp định thương mại tự do với Ấn Độ, một đối tác và cũng là đối thủ cạnh tranh rất mạnh đối với nhiều sản phẩm của Việt Nam. Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh cũng cho rằng, DN cần thay đổi tư duy kinh doanh trong bối cảnh mới, lấy sức ép về cạnh tranh là động lực để đổi mới và phát triển. EVFTA chắc chắn sẽ mang lại cơ hội nếu DN nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại.

Nguyễn Đăng

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường nói về nông nghiệp hữu cơ như thế nào?

Thứ năm, ngày 13/08/2020 06:00 AM (GMT+7)

Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường (ảnh) đánh giá về tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ, và khẳng định Việt Nam có nhiều cơ hội, lợi thế để phát triển các vùng sản xuất hữu cơ. Tuy nhiên, quan điểm của Bộ là không phát triển tràn lan, mà xác định các đối tượng chủ lực ở những vùng hội đủ mọi điều kiện.

Ông Nguyễn Xuân Cường, Bộ trưởng Bộ NNPTNT.

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang được coi là một xu hướng phát triển mạnh trên thế giới. Ở nhiều nước, tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp hữu cơ lên đến 15%. Bộ trưởng nhận định về xu hướng này như thế nào?

– Sản xuất nông nghiệp hữu cơ đang là trào lưu của thế giới trong 10 năm trở lại đây, hiện, tổng diện tích canh tác hữu cơ trên thế giới đạt khoảng 71 triệu ha, chiếm 1,5% tổng diện tích canh tác và tiếp tục còn tăng lên trong thời gian tới. Theo Tổ chức nông nghiệp hữu cơ quốc tế (IFOAM), hiện có 186 quốc gia phát triển sản phẩm hữu cơ.

Sản xuất rau hữu cơ ở Sóc Sơn (Hà Nội). Ảnh: T.L

“Quan điểm của Bộ là tập trung xác định một số đối tượng cây – con chủ lực để sản xuất hữu cơ ở những khu vực hội tụ đủ các điều kiện đầu vào, không phát triển tràn lan, hình thức”.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường

Sở dĩ phát triển nông nghiệp hữu cơ được coi là 1 trong những xu hướng tiến bộ và tất yếu của thế giới là vì nó đã tạo ra những giá trị căn cốt, mang tính bền vững. Thứ nhất, sản xuất hữu cơ đã tạo ra dòng sản phẩm rất bổ ích, dinh dưỡng, an toàn, góp phần bảo vệ môi trường, tài nguyên trong suốt quá trình canh tác nông nhiệp; thứ hai là phương thức canh tác hữu cơ cũng đảm bảo đa dạng sinh học. Vì vậy, canh tác hữu cơ không chỉ tốt cho người tiêu dùng mà còn tốt cho người sản xuất, tốt cho phát triển trong hiện tại và tương lai.

Trong dòng chảy chung của xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ trên thế giới, Việt Nam đã có những chuẩn bị như thế nào để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hữu cơ, thưa Bộ trưởng?

– Việt Nam tất nhiên không đứng ngoài dòng chảy chung đó, trong 4 năm gần đây, nông nghiệp hữu cơ được thúc đẩy phát triển nhanh, từng bước hình thành hệ sinh thái nông nghiệp hữu cơ.

Nếu như năm 2017, lần đầu tiên một diễn đàn lớn về sản xuất hữu cơ được tổ chức thì chỉ sau đó một năm, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 109/2018/NĐ-CP về phát triển nông nghiệp hữu cơ. Sau đó, Bộ NNPTNT đã ban hành thông tư hướng dẫn sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Tháng 6/2020, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ đến năm 2030 với mục tiêu đến năm 2025, diện tích nhóm đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ đạt khoảng 1,5 – 2%; diện tích đất trồng trọt hữu cơ đạt khoảng trên 1% tổng diện tích đất trồng trọt với các cây trồng chủ lực như: Lúa, rau đậu các loại, cây ăn quả, chè, hồ tiêu, cà phê, điều, dừa… Tỷ lệ sản phẩm chăn nuôi hữu cơ đạt khoảng 1 – 2% tính trên tổng sản phẩm chăn nuôi sản xuất trong nước.

Điều đáng mừng là, sản xuất nông nghiệp hữu cơ được các thành phần kinh tế, bà con nông dân hưởng ứng. Đến nay, đã có 46/63 tỉnh, thành phố có tố chức nông nghiệp hữu cơ với diện tích trên 233.000ha, huy động được 60 doanh nghiệp tham gia trực tiếp sản xuất, có 200 hợp tác xã, 173.000 nông dân sản xuất hữu cơ. Năm 2019, kim ngạch xuất khẩu nông sản hữu cơ đạt 330 triệu USD.

Chúng ta cũng đang đứng trước cơ hội xuất khẩu sản phẩm hữu cơ rất lớn khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 1/8. EU là thị trường lớn, trong quy mô thương mại nông sản hữu cơ thế giới thì riêng thị trường EU chiếm đến 50%. Nếu chúng ta tổ chức sản xuất tốt thì hoàn toàn có thể thâm nhập được vào thị trường này.

Xin Bộ trưởng cho biết, trong thời gian tới Bộ sẽ triển khai những giải pháp gì để đạt được mục tiêu mà đề án của Thủ tướng đã đặt ra?

– Trong đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu phát triển cho từng nhóm nông sản trên cả quy mô, diện tích, giá trị. Hiện, Bộ NNPTNT đang phối hợp với các tỉnh, thành phố và Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ để triển khai đề án.

Cụ thể, chúng tôi hướng dẫn các tỉnh ở những vùng, khu vực có lợi thế để phát triển nông nghiệp hữu cơ; hoàn thiện các cơ chế chính sách để thu hút các thành phần kinh tế tham gia sản xuất hữu cơ.

Phối hợp với các bộ ngành hoàn thiện cơ chế, chính sách cho nông nghiệp hữu cơ phát triển. Ví dụ, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ hoàn thiện quy chuẩn, tiêu chuẩn phát triển nông nghiệp hữu cơ; phối hợp với Bộ Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư đảm bảo nguồn lực khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã làm nông nghiệp hữu cơ. Quan điểm của Bộ là tập trung xác định một số đối tượng cây – con chủ lực để sản xuất hữu cơ ở những khu vực hội tụ đủ các điều kiện đầu vào, không phát triển tràn lan, hình thức.

Nhưng nói như thế không có nghĩa sản xuất hữu cơ là cái gì đó cao siêu, nông dân, hợp tác xã đều có thể làm được miễn là tuân thủ đúng quy trình, đẩy mạnh liên kết thì sẽ tạo thành chuỗi kinh tế tuần hoàn an toàn và bền vững.

Xin cảm ơn Bộ trưởng!

Ông Lê Anh Dũng – Trưởng Ban Xã hội Dân số và Gia đình (T.Ư Hội NDVN):

Cần liên kết nông hộ nhỏ lẻ

Giải pháp của Hội ND phải bám sát, kết hợp cùng các giải pháp của Chính phủ. Các cấp Hội ND phải đẩy mạnh liên kết các nông hộ nhỏ lẻ lại. Đây là vấn đề mà Chính phủ đang cần chúng ta thực hiện. Cũng như đề xuất quy hoạch vùng nông nghiệp hữu cơ, nếu còn sản xuất nhỏ lẻ, manh mún thì khó đảm bảo chi phí đầu tư. Cuối cùng là tập trung xây dựng mô hình điểm, hiệu quả và quy mô. Đây mới là giải pháp đột phá để Hội ND tham gia.

Ông Đoàn Văn Thanh – Phó chủ tịch Hội ND TP.HCM:

Hỗ trợ tài chính cho các mô hình

Phải xác định được vùng sản xuất chính, có lợi thế sản phẩm chủ lực và thị trường cho sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Từ đó, xây dựng quy hoạch và bảo vệ đất đai, nguồn nước tại các vùng chưa hoặc ít bị ô nhiễm. Đồng thời, nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về thuế, tiền thuê đất, lãi vay cho các chủ thể đang trong giai đoạn xử lý đất để chuyển sang canh tác hữu cơ. Cũng như hỗ trợ chi phí đăng ký chứng nhận nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam và quốc tế.

Bà Trương Thị Kim Phượng – Phó Chủ tịch Hội ND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu:

Cầm tay chỉ việc giúp nông dân

Để vận động nông dân áp dụng, thực hiện sản xuất nông nghiệp hữu cơ một cách hiệu quả, đòi hỏi các cấp Hội ND phải đổi mới mạnh mẽ phương thức hoạt động theo hướng “cầm tay chỉ việc”. Phải tạo được lòng tin và thỏa mãn được tâm lý của nông dân, để họ không chỉ nghe rõ, mà phải nhìn thấy, cầm nắm được. Nghĩa là, ngoài việc tập huấn, bồi dưỡng kiến kiến thức còn phải tổ chức lại sản xuất, có mô hình để hướng dẫn, hỗ trợ và đầu tư vật chất và liên kết tiêu thụ ổn định.

Nguyên Vỹ (ghi)