LỄ KHAI GIẢNG LỚP “KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC RAU TẠI NHÀ” tại xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn

Sáng ngày 06/07/2020, tại Hội trường UBND xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao đã phối hợp với Hội Nông dân xã tổ chức lễ khai giảng lớp học “Kỹ thuật trồng và chăm sóc rau tại nhà”

Buổi khai giảng có sự tham dự  của Ông Ngô Trần Vũ  –  Trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao; Ông Vũ Thanh Hưng– Chủ tịch Hội Nông dân xã; Kỹ sư Trần Văn Quý – giáo viên trực tiếp giảng dạy; cùng với 35 học viên là nông dân, lao động nông thôn trên địa bàn xã.

Hình: Ông Ngô Trần Vũ – Trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác  Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao phát biểu tại buổi khai giảng.

Phát biểu tại buổi Khai giảng, Ông Ngô Trần Vũ – Trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao đã trao đổi với các học viên những lợi ích của việc trồng rau không sử dụng đất tại nhà và các quy định của lớp học. Ông cũng hy vọng các học viên tham gia lớp học đầy đủ để nắm bắt hết kiến thức khóa học và có thể ứng dụng trong quy mô gia đình cũng như kinh doanh.

Hình: Ông Vũ Thanh Hưng – Chủ tịch Hội Nông dân xã Xuân Thới Sơn phát biểu tại buổi lễ khai giảng.

Tại buổi lễ, Ông Vũ Thanh Hưng – Chủ tịch Hội Nông dân xã gửi lời cảm ơn tới Trung tâm đã hỗ trợ và tạo điều kiện tổ chức lớp học cho lao động nông thôn tại địa phương, đồng thời cũng hy vọng tất cả các học viên tham dự lớp học đầy đủ, nghiêm túc, tích cực trao đổi học tập, ghi chép cùng giáo viên để lớp học đạt kết quả cao nhất.

Theo chương trình, lớp học được diễn ra từ ngày 30/06/2020 đến ngày 17/07/2020, học viên sẽ được giáo viên đào tạo, tập huấn về lý thuyết và kỹ năng thực hành các nội dung liên quan tới kỹ thuật trồng và chăm sóc rau tại nhà. Kết thúc khóa học, các học viên sẽ được cấp chứng chỉ đào tạo và đi tham quan tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM./.

Thúc đẩy kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản Cần xác lập tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật bắt buộc

Từ nhiều năm qua, chính quyền các tỉnh, thành phố vùng kinh tế trọng điểm phía Nam rất quan tâm đến việc tổ chức sản xuất và quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) cho nông sản thực phẩm, nhằm tận dụng tốt nhất cơ hội, lợi thế của từng địa phương, tránh tình trạng “được mùa, mất giá”. 

Tuy vậy, kết quả mang lại còn rất hạn chế, tình trạng “mạnh ai nấy làm” diễn ra khá phổ biến. Đây là vấn đề nóng được đặt ra tại hội thảo “Thúc đẩy kết nối sản xuất – tiêu thụ nông sản thực phẩm và đề xuất chính sách cho các tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, do Sở Công thương TPHCM phối hợp Trường Đại học Kinh tế TPHCM tổ chức ngày 4-6.

Chưa gắn kết chặt chẽ trong sản xuất và tiêu thụ  

Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam được xem là khu vực phát triển nhất nước, có vai trò, vị trí rất quan trọng, bao gồm nhiều địa phương có trình độ phát triển kinh tế thuộc tốp đầu cả nước, như TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An, Tiền Giang, Tây Ninh và Bình Phước. Đây cũng là vùng chăn nuôi, trồng trọt tập trung với quy mô lớn, cung ứng nông sản thực phẩm cho các đô thị lớn trong cả vùng. 

Đánh giá về hiện trạng sản xuất và tiêu thụ thực phẩm trong vùng, ông Trần Tiến Khai, giảng viên Trường Đại học Kinh tế, Ban Chủ nhiệm đề án “Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản thực phẩm theo hướng bảo đảm an toàn thực phẩm giữa TPHCM và các tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” (đề án), cho rằng, lâu nay chúng ta sản xuất hàng hóa để xuất khẩu thì phải đáp ứng tất cả các tiêu chí mà nước nhập khẩu đưa ra, trong khi sản xuất nông sản cho tiêu dùng nội địa với dân số cả vùng 24 triệu người, có sức mua rất lớn thì lại không làm được. Việc không thống nhất trong sản xuất cũng có nghĩa, chúng ta không thể tiến tới kiểm soát được chất lượng, ATTP. 

Người dân thành phố mua sắm tại Hội nghị Kết nối cung cầu hàng hóa giữa TPHCM và 45 tỉnh, thành. Ảnh: CAO THĂNG

Theo ông Khai, nguyên nhân chính là các tỉnh, thành chưa liên kết chặt chẽ với nhau khi xây dựng kế hoạch sản xuất cũng như thông tin về thị trường và lượng cầu thị trường nhằm đáp ứng cân bằng cung cầu. Hạn chế liên kết vùng cũng xuất phát từ thực tế là các địa phương không thể cung cấp thông tin chi tiết và chính xác tỷ lệ diện tích hoặc quy mô sản lượng trồng trọt, chăn nuôi đạt các tiêu chuẩn.

Chỉ có thể ước lượng tỷ lệ diện tích trồng rau đạt tiêu chuẩn VietGAP vào khoảng từ 5%-10% tổng diện tích trồng rau; không có số liệu cụ thể về tỷ lệ quy mô đàn heo, gà thịt, trứng được chăn nuôi theo VietGAP hoặc các quy chuẩn sản xuất an toàn sinh học. Điều quan trọng là hệ thống quản lý của Việt Nam hiện nay chưa có cấp vùng, bị chia cắt theo địa giới hành chính, dẫn đến việc phân bổ các nhân tố sản xuất và quản trị liên kết các nhân tố về phía cung và cầu kém hiệu quả. 

Thay đổi cách tiếp cận từ “cầu”

Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Đầu tư Tài chính Nhà nước, Ban Chủ nhiệm đề án, nhìn nhận, trong lĩnh vực sản xuất và tiêu thụ nông sản, vấn đề tồn tại hiện nay là cả thị trường và chủ thể quản lý nhà nước đều có các khiếm khuyết. Các chính sách nông nghiệp và thương mại nông sản thường dùng từ phía “cung”, các chính sách và giải pháp đưa ra đều yêu cầu phải tổ chức lại sản xuất, vận động nông dân sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, đạt chuẩn an toàn… Tuy nhiên, tất cả các giải pháp đưa ra đều chưa trả lời được câu hỏi của người nông dân “tại sao phải làm như thế, tôi làm theo vận động của Nhà nước để làm gì vì sản xuất phải tốn nhiều chi phí, thời gian đến giá thành cao, không cạnh tranh được với hàng sản xuất không đạt chuẩn”. 

Ông Nguyễn Ngọc Hòa phân tích thêm, đã đến lúc cần thay đổi cách tiếp cận vấn đề từ phía “cầu”. Các chính sách tập trung xây dựng chuẩn hàng hóa bắt buộc khi đưa vào lưu thông phân phối trên thị trường. Chỉ có hàng VietGAP, chuẩn ATTP mới được đưa vào lưu thông. Nói cách khác, việc đầu tiên là xác lập tiêu chuẩn hàng rào kỹ thuật bắt buộc. Cách tiếp cận này coi vai trò của thị trường từ phía cầu là tiên quyết và có tính dẫn dắt thị trường cho sản xuất từ phía “cung”.

Để làm được điều này, cần phải có sự thống nhất về quan điểm tiếp cận và tổ chức triển khai quyết liệt, đồng bộ. Và, chỉ có TPHCM với vai trò hạt nhân liên kết vùng, cùng với những thế mạnh của mình mới có thể đứng ra chủ trì thiết lập “cuộc chơi” mới dựa vào những đặc thù và điều kiện thuận lợi, như TPHCM là thị trường tiêu thụ hàng hóa lớn nhất vùng, tất cả các tỉnh đều có nhu cầu bán hàng vào TPHCM nên phải tuân thủ các quy định do TPHCM ban hành.

TPHCM có kênh phân phối hiện đại chiếm 15% thị phần bán lẻ được tổ chức bài bản theo chuỗi. Hiện chỉ có 10 DN là nhà phân phối hiện đại, trong đó có 2 nhà phân phối lớn mà TP có thể chỉ đạo trực tiếp là Saigon Co.op và Satra, đã chiếm 30% thị phần kênh hiện đại, nên có thể đóng vai trò dẫn dắt toàn kênh hiện đại.

Mặt khác, TP hiện có 3 chợ đầu mối nông sản chiếm đến 80% thị phần hàng thực phẩm thiết yếu, do đó TP chỉ cần tập trung chỉ đạo thiết lập tiêu chuẩn mới mang tính bắt buộc đối với tất cả hàng hóa đưa vào chợ. Lúc đó, chúng ta có thể kiểm soát hầu hết thị trường mà không cần mất sức kiểm soát 243 chợ bán lẻ nữa.

Đồng tình với quan điểm này, đại diện Sở Công thương tỉnh Lâm Đồng đã dẫn ra ví dụ, lâu nay tỉnh đã nhiều lần yêu cầu các DN, hộ sản xuất phải thực hiện sơ chế hàng nông sản tại nguồn nhằm giảm thiểu lượng rác thải khi đưa ra thị trường nhưng không có kết quả. Đến năm 2018, TPHCM ra quy định yêu cầu 3 chợ đầu mối không cho nhập hàng chưa qua sơ chế, lập tức tất cả các hộ sản xuất, DN đều phải chấp hành rất nghiêm túc. 
Phát biểu tại hội thảo, đại diện các tỉnh, thành đều thống nhất khi cho rằng, tâm lý người nông dân, DN sản xuất là phải bán được hàng. Nếu TPHCM và ban quản lý đề án phối hợp với các bộ, ngành nghiên cứu thống nhất VietGAP với quy chuẩn sản xuất an toàn sinh học, áp dụng cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản và chế biến, tiến tới bắt buộc áp dụng trong cả nước thì sẽ loại bỏ được tình trạng sản xuất manh mún “mạnh ai nấy làm”, “cái gì ngon và sạch thì dành cho xuất khẩu, còn sản xuất đại trà, không an toàn thì tiêu thụ nội địa”. Nhưng để thực hiện được, cần thêm nhiều cơ chế, chính sách từ phía trung ương và các địa phương, cũng như cần một lộ trình phù hợp. Hơn lúc nào hết, vấn đề đảm bảo ATTP cho miếng ăn hàng ngày của người dân, cần phải xem là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.

Theo bà Nguyễn Huỳnh Trang, Phó Giám đốc Sở Công thương TPHCM, với vai trò là Chủ tịch Hội đồng Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam, UBND TPHCM đã giao Trường Đại học Kinh tế TPHCM phối hợp với Sở Công thương TPHCM và các sở, ban ngành các tỉnh thành trong vùng và tỉnh Lâm Đồng, triển khai công tác xây dựng Đề án “Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản thực phẩm theo hướng bảo đảm an toàn thực phẩm giữa TPHCM và các tỉnh thành vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”.

Mục tiêu chủ đạo là trên cơ sở đánh giá hiện trạng, tiềm năng từ khâu sản xuất đến thị trường tiêu thụ của vùng, sẽ đề xuất phương hướng cải thiện cơ chế quản lý ATTP và xây dựng thêm một số cơ chế liên kết dọc, phù hợp giữa tác nhân sản xuất – chế biến – thương mại – tiêu thụ trong chuỗi giá trị nông sản thực phẩm hiện hữu. Đồng thời, đề xuất các giải pháp kết nối sản xuất và tiêu thụ nông sản thực phẩm giữa các tỉnh thành trong vùng, theo cơ chế liên kết vùng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

THÚY HẢI

BẾ GIẢNG LỚP “Sản xuất rau ăn lá và sản xuất rau ăn quả ứng dụng công nghệ cao” tại xã Long Hòa, huyện Cần Giờ

Sáng ngày 30/6/2020, tại văn phòng Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao cơ sở Ấp 1, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi đã diễn ra Lễ bế giảng khóa học “Sản xuất rau ăn lá ứng dụng công nghệ cao” và “Sản xuất rau ăn quả ứng dụng công nghệ cao” cho 60 học viên là nông dân và lao động nông thôn trên địa bàn xã Long Hòa, huyện Cần Giờ.

Tham dự buổi lễ bế giảng có TS. Lê Ngọc Đức – Giám Đốc Trung tâm Dạy nghề NNCNC, ông Ngô Trần Vũ – Trưởng phòng Phòng Đào tạo – Hợp tác, Trung Tâm Dạy nghề NNCNC; ông Nguyễn Chí Tâm – Công chức văn hóa xã hội xã Long Hòa cùng hơn 60 học viên tham dự khóa học.

Kết thúc khóa học, 60 học viên theo học đủ điều kiện cấp chứng chỉ đào tạo. Trong đó có 04 học viên đạt thành tích học tập xuất sắc trong học tập.

Phát biểu tại buổi lễ bế giảng, TS. Lê Ngọc Đức – GĐ Trung tâm Dạy nghề NNCNC đã chia sẻ một số kiến thức về tình hình sản xuất nông nghiệp hiên nay tại trên thế giới. nói chung và Việt Nam nói riêng. Với điều kiện sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cần Giờ hiện nay, nên trong thời gian tới, Trung tâm cũng mong muốn sẽ tiếp tục phối hợp với UBND và Hội Nông dân xã tiếp tục nghiên cứu, rà soát, tìm ra các mô hình mới, chương trình mới để đào tạo kiến thức về sản xuất nông nghiệp cho nông dân và lao động nông thôn trên địa bàn huyện. Cuối cùng ông gửi lời cảm ơn tới toàn thể học viên và sự phối hợp của Ủy ban Nhân dân xã Long Hòa đã tổ chức thành công 02 khóa học.

TS. Lê Ngọc Đức – GĐ Trung tâm Dạy nghề NNCNC

Thay mặt cho UBND xã Long Hòa, Ông Nguyễn Chí Tâm – Công chức Văn hóa xã hội cũng bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Ban lãnh đạo Trung tâm, đã tạo điều kiện và phối hợp cùng với UBND xã tổ chức thành công 02 khóa học và đạt được kết quả cao. Bà cũng mong muốn trong thời gian tới 2 đơn vị sẽ tiếp tục phối  hợp tổ chức các khóa học khác bà con nông dân tiếp cận được với các mô hình sản xuất nông nghiệp mới có hiệu quả.

 Ông Nguyễn Chí Tâm – Công chức Văn hóa xã hội

Một số hình ảnh trong bế giảng

Học viên hoàn thành khóa học được cấp chứng chỉ

Học viên xuất sắc được nhận bằng khen

Học viên chụp hình lưu niệm

LỄ KHAI GIẢNG LỚP “SẢN XUẤT RAU THEO HƯỚNG HỮU CƠ” tại xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi.

Sáng ngày 01/07/2020, tại Văn phòng Ấp 2, xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh, Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao đã phối hợp với Hội Nông dân xã tổ chức lễ khai giảng lớp học “Sản xuất rau theo hướng hữu cơ”

Buổi khai giảng có sự tham dự  của Bà Lê Thị Thái  –  Phó trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao; Bà Đỗ Thị Ngọc Phương – Chủ tịch Hội Nông dân xã; Thạc sĩ Vũ Văn Văn Quý – giáo viên trực tiếp giảng dạy; cùng với 35 học viên là nông dân, lao động nông thôn trên địa bàn xã.

Hình: Bà Lê Thị Thái – Phó trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác  Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao phát biểu tại buổi khai giảng.

Phát biểu tại buổi Khai giảng, Bà Lê Thị Thái – Phó trưởng phòng Đào tạo – Hợp tác Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao đã trao đổi với các học viên những lợi ích mà canh tác nông nghiệp hữu cơ mang lại. Bà cũng hy vọng các học viên tham gia lớp học đầy đủ để nắm bắt hết kiến thức khóa học và có thể ứng dụng trong quy mô gia đình cũng như kinh doanh.

Hình: Bà Đỗ Thị Ngọc Phương – Chủ tịch Hội Nông dân xã Phạm Văn Cội, huyện Củ Chi phát biểu tại buổi lễ khai giảng.

Tại buổi lễ, Bà Đỗ Thị Ngọc Phương – Chủ tịch Hội Nông dân xã gửi lời cảm ơn tới Trung tâm đã hỗ trợ và tạo điều kiện tổ chức lớp học cho lao động nông thôn tại địa phương, đồng thời cũng hy vọng tất cả các học viên tham dự lớp học đầy đủ, nghiêm túc, tích cực trao đổi học tập, ghi chép cùng giáo viên để lớp học đạt kết quả cao nhất.

Theo chương trình, lớp học được diễn ra từ ngày 30/06/2020 đến ngày 17/07/2020, học viên sẽ được giáo viên đào tạo, tập huấn về lý thuyết và kỹ năng thực hành các nội dung liên quan tới kỹ thuật sản xuất rau theo hướng hữu cơ. Kết thúc khóa học, các học viên sẽ được cấp chứng chỉ đào tạo và đi tham quan tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM./.

 

HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 19 NĂM NGÀY GIA ĐÌNH VIỆT NAM – Trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh năm học 2020 – 2021

Ngày 30 tháng 6 năm 2020, Công đoàn CSTV Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao  tổ chức hoạt động kỷ niệm 19 năm ngày Gia đình Việt Nam  – Trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh năm học 2020 – 2021. Đến dự buổi họp mặt có ông Lê Ngọc Đức – Bí thư chi bộ, Giám đốc Trung tâm cùng toàn thể CC-VC-NLĐ.

Hoạt động này nhằm hưởng ứng 19 năm Ngày Gia đình Việt Nam, biểu dương nhân rộng gương gia đình tiêu biểu trong phong trào xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; góp phần khẳng  định giá trị sâu sắc của gia đình Việt Nam, là dịp để mỗi người con hướng về cội nguồn, về người thân, nuôi dưỡng những tình cảm, giá trị văn hóa cao quý của dân tộc. Dù có đi đâu, làm gì đi chăng nữa, cũng luôn hướng về gia đình, nhớ đến gia đình với những gì tốt đẹp nhất. Đây cũng là dịp để gặp gỡ, giao lưu chia sẻ kinh nghiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, thực hiện nếp sống văn minh, văn hóa ứng xử trong gia đình, kế thừa truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các giá trị mới, tiến bộ,…với mong muốn qua đó tôn vinh giá trị nhân văn sâu sắc của gia đình, hướng tới sự phát triển bền vững.

Tại đơn vị có 02 gia đình được biểu dương gia đình có hôn nhân bền vững – hạnh phúc là gia đình ông Huỳnh Minh Hổ có hôn nhân 30 năm và gia đình ông Đặng Văn Dũng có hôn nhân 26 năm, đây cũng là những tấm gương để các CC-VC-NLĐ trong đơn vị noi theo, biết quý trọng và nâng niu, gìn giữ mái ấm gia đình.

Ông Lê Ngọc Đức – Bí thư Chi bộ, Giám đốc Trung tâm có buổi trò chuyện, chia sẻ cùng VC-NLĐ tại đơn vị về giá trị của gia đình.

 Bên cạnh đó Công đoàn CSTV Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp công nghệ cao còn tổ chức trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh cho các cháu là con CC-VC-NLĐ có thành tích xuất sắc trong học tập và các cháu có hoàn cảnh khó khăn. Số tiền học bổng do các CC-VC-NLĐ trong đơn vị đóng góp bằng phong trào “Nuôi heo đất”, số học bổng được trao là 10 suất, số tiền tuy không lớn nhưng nó là món quà nhỏ, động viên tinh thần, tiếp sức thêm cho các em trên con đường đi tìm tri thức.

Ông Lê Ngọc Đức – Bí thư Chi bộ, Giám đốc Trung tâm  trao học bổng Nguyễn Đức Cảnh cho VC-NLĐ có con đạt thành tích xuất sắc trong học tập

Buổi họp mặt kết thúc trong  không khí vui tươi, phấn khởi, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc, để lại ấn tượng đẹp trong lòng mỗi người tham dự.

KHAI GIẢNG LỚP “KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC RAU MẦM ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO” TẠI PHƯỜNG LINH TRUNG, QUẬN THỦ ĐỨC

Sáng ngày 26/6/2020, tại Trung tâm học tập cộng đồng khu phố 4 (Ekocenter), phường Linh Trung, quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh, Trung tâm Dạy nghề Nông nghiệp Công nghệ cao phối hợp cùng Hội Nông dân phường tổ chức lễ khai giảng khóa học “Kỹ thuật trồng và chăm sóc rau mầm ứng dụng công nghệ cao”

Tham dự buổi lễ khai giảng, về phía Trung tâm Dạy nghề có ông Nguyễn Hùng Dương – Chuyên viên phòng Đào tạo – Hợp tác; về phía địa phương có sự tham dự của Ông Phạm Văn Tiến – Chủ tịch Hội Nông dân phường, giáo viên; cùng với 35 học viên là nông dân, lao động nông thôn trên địa bàn phường.

Hình: Ông Nguyễn Hùng Dương – Chuyên viên phòng P. ĐT-HT, Trung tâm Dạy nghề NNCNC phát biểu tại buổi khai giảng.

Tại buổi lễ, ông Nguyễn Hùng Dương – Chuyên viên phòng Đào tạo – Hợp tác Trung tâm Dạy nghề NNCNC đã trao đổi với học viên một số nội dung có liên quan đến lớp học cũng như những kiến thức về các phương pháp trồng và chăm sóc rau mầm. Ông cũng hy vọng các học viên tham gia lớp học đầy đủ để nắm bắt hết kiến thức khóa học, và có thể ứng dụng trong quy mô gia đình cũng như kinh doanh

Hình: Giáo viên trao đổi một số kiến thức về rau mầm tại buổi lễ khai giảng.

Tại buổi lễ, đại diện lãnh đạo địa phương gửi lời cảm ơn tới Trung tâm đã hỗ trợ và tạo điều kiện tổ chức khóa học cho lao động nông thôn tại địa phương, đồng thời cũng hy vọng tất cả các học viên tham dự lớp học đầy đủ, nghiêm túc, tích cực trao đổi học tập, ghi chép cùng giáo viên để khóa học đạt kết quả cao nhất.

Theo chương trình, khóa học được diễn ra từ ngày 26/6/2020 đến ngày 13/7/2020, học viên sẽ được giáo viên đào tạo, tập huấn về lý thuyết và thực hành các nội dung liên quan tới kỹ thuật trồng và chăm sóc rau mầm ứng dụng công nghệ cao. Kết thúc khóa học, các học viên sẽ được cấp chứng chỉ chứng nhận và đi tham quan tại Khu Nông nghiệp Công nghệ cao TP.HCM./.

 

Xuất khẩu nông sản chế biến tăng vọt

Chỉ trong quý 1-2020, xuất khẩu nông sản chế biến Việt Nam đạt 166 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm 2019.

Tín hiệu vui cho ngành chế biến

Theo Bộ Công thương, quý 1 vừa qua, các sản phẩm chế biến có trị giá xuất khẩu lớn nhất gồm: xoài sấy (14,4 triệu USD – tăng 149,7% so với cùng kỳ), nước chanh leo (10,6 triệu USD – tăng 3,5%), trái cây sấy (gần 9,5 triệu USD – tăng 222%)… 

Sự tăng trưởng tích cực này là cả quá trình đầu tư nhiều năm của ngành công nghiệp chế biến. Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), giai đoạn 2018-2019 có 30 dự án lớn về chế biến nông sản (vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD) khởi công xây dựng và một số cơ sở đã hoàn thành bước vào sản xuất.

Chế biến nông sản xuất khẩu tại Công ty cổ phần Sản xuất và Cung ứng Rau quả sạch Quốc tế

Trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát, sản phẩm rau quả chế biến không chịu tác động từ dịch nhờ sự tiện lợi và thời gian bảo quản lâu; nếu tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm chế biến sẽ làm tăng trị giá xuất khẩu toàn ngành hàng rau quả khi dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp. 

Theo Bộ NN-PTNT, tốc độ tăng trị giá hàng nông sản qua chế biến sâu đạt 7% – 8%/năm; tỷ trọng sản lượng sản phẩm chế biến sâu, có giá trị gia tăng cao của các ngành đạt từ 30% trở lên; trên 50% số cơ sở chế biến các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đạt trình độ công nghệ sản xuất tiên tiến. Từ đó, hình thành các cụm liên kết sản xuất – bảo quản – chế biến – tiêu thụ nông sản gắn với vùng nguyên liệu tập trung, góp phần phát triển kinh tế khu vực nông thôn, xây dựng nông thôn mới và giải quyết việc làm cho nông dân.

Đặc biệt, Việt Nam đã và đang tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu nông sản, nhất là các sản phẩm chế biến càng rộng mở. Tuy nhiên, công nghệ chế biến nông sản của chúng ta chỉ mới đạt trình độ chế biến hiện đại, theo tiêu chuẩn khu vực và thế giới ở một số ngành như hạt điều, cà phê, lúa gạo, tôm, cá tra…

Hướng tới thị trường khó tính

Các số liệu từ Bộ NN-PTNT cho thấy, tổng trị giá xuất khẩu các sản phẩm nông sản chế biến trên thế giới lên tới 2.200 tỷ USD/năm. Trong thị trường này, nông sản Việt Nam có rất nhiều cơ hội, nhưng làm cách nào để nắm bắt? Thực tế, nhiều doanh nghiệp (DN) Việt chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu, từ số lượng, thời điểm, chủng loại, chất lượng, mức độ an toàn, đến giá mua nguyên liệu… Sự liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị sản xuất – chế biến – tiêu thụ của các ngành hàng nhìn chung thiếu chặt chẽ.

Chủ tịch HĐQT Công ty Vinamit Nguyễn Lâm Viên phân tích, hiện nay đã có nhiều DN đầu tư nhà máy chế biến hiện đại, quan tâm phát triển thương hiệu, đó là chiến lược đúng. Tuy nhiên, khó khăn nhất là vùng nguyên liệu làm sao cho đồng đều, đảm bảo chất lượng. Các DN chủ yếu đi buôn là chính, khâu sản xuất nhà nông tự lo, dẫn đến buông lỏng chất lượng. Phần lớn DN nông nghiệp đều không có điều kiện để sở hữu được đất đai màu mỡ, vị trí thuận lợi.

Ví dụ, để có vùng trồng rau nguyên liệu diện tích 500 ha tại Nghệ An và Lâm Đồng sản xuất theo tiêu chuẩn rau sạch, theo Công ty cổ phần Rau quả sạch Quốc tế (thuộc Tập đoàn TH), khó khăn nhất là vốn đầu tư ban đầu rất lớn, thời gian thu hồi vốn rất dài. Vì thế, không phải DN nào cũng mạnh dạn đầu tư. 

Theo ông Đặng Phúc Nguyên, ngành công nghiệp chế biến rau quả sẽ chiếm ưu thế và trên đà phát triển, nhất là khi EVFTA có hiệu lực. Tuy nhiên, hàng rào kỹ thuật để vào thị trường EU rất khắt khe, các DN cần chuẩn bị vùng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn.

Mặt khác, một số nước “láng giềng” đầu tư công nghệ, đồng thời đẩy mạnh nhập khẩu nông sản Việt Nam để chế biến xuất khẩu qua các thị trường EU, nhằm giành lấy thị phần từ Việt Nam. Do đó, Nhà nước, DN cần vận động nông dân tham gia vào hợp tác xã, tạo ra những cánh đồng mẫu lớn để thực hiện cơ giới hóa. Chúng ta có thể thu hút đầu tư từ Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Israel… nhằm thúc đẩy công nghệ chế biến sâu phát triển mạnh mẽ. 

Tuy có mức tăng trưởng mạnh trong quý 1-2020, nhưng do giá trị xuất khẩu các sản phẩm nông sản chế biến chỉ chiếm tỷ trọng thấp (18,6%) trên tổng trị giá xuất khẩu hàng rau củ quả, nên không bù đắp được sự sụt giảm của ngành hàng rau củ quả trong 3 tháng đầu năm.

Bộ NN-PTNT đang hoàn thiện dự thảo Đề án “Phát triển ngành chế biến rau củ quả để phấn đấu đứng trong số 5 nước hàng đầu thế giới”.

Hướng tới mục tiêu này, chúng ta cần triển khai nhanh các giải pháp như vốn vay ưu đãi cho ngành nông nghiệp, nhân rộng mô hình cánh đồng mẫu lớn, xây dựng chuỗi liên kết DN – nhà nông, ưu tiên xây dựng nhà máy chế biến gắn kết với vùng trồng nguyên liệu…

Đồng thời gấp rút hoàn thiện bộ máy dự báo và thông tin thị trường, cập nhật thông tin, chính sách thương mại của các thị trường xuất khẩu chủ lực, đây cũng là khâu quan trọng để đưa ngành nông sản chế biến Việt Nam tiến vào tốp các nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới.

THANH HẢI

Vượt mùa hạn mặn nhất lịch sử với nhiều bài học quý giá

Hạn mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nghiêm trọng nhất trong lịch sử nhưng mức độ gây thiệt hại giảm đáng kể và từ mùa hạn mặn này, chúng ta đúc kết được những bài học quý giá cho thời gian tới.

Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường: Vấn đề cốt lõi là tìm ra những đối tượng sản xuất, phương thức sản xuất phù hợp nhất

Đây là khẳng định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường tại hội nghị “Tổng kết công tác chỉ đạo, điều hành phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh khu vực ĐBSCL mùa khô năm 2019-2020”, do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với UBND tỉnh Long An, tổ chức vào ngày 20/6, ở thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Theo Tổng cục Thủy lợi, mùa khô 2019-2020 xuất hiện sớm hơn so trung bình nhiều năm. Điểm khác thường nữa là thời gian hạn mặn kéo dài gấp đôi so với mùa khô năm 2016. Mức độ gay gắt và liên tục duy trì ở mức cao trong cả mùa khô. Độ mặn ở các sông Cửa Tiểu, Cửa Đại, Hàm Luông liên tục duy trì ở đỉnh, cao liên tục suốt từ tháng 2 đến tháng 5. Hầu như không giảm hoặc giảm không đáng kể trong các kỳ triều thấp. Xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020 khu vực ĐBSCL ở mức nghiêm trọng nhất trong lịch sử.

Cục Trồng trọt cho biết: Về sản xuất nông nghiệp, xâm nhập mặn đã ảnh hưởng trực tiếp đến 10/13 tỉnh vùng ĐBSCL. Với vụ lúa mùa 2019, diện tích bị thiệt hại trên đất lúa tôm chủ yếu ở tỉnh Cà Mau 16.500/176.700 ha, trong đó mất trắng 14.000 ha.

Đối với vụ đông xuân 2019-2020, diện tích lúa bị ảnh hưởng khoảng 41.900 ha/1.541.000 ha tổng diện tích gieo trồng toàn vùng (chiếm tỷ lệ 2,7%). Trong đó, thiệt hại mất trắng 26.000 ha ở các tỉnh Trà Vinh 14.300 ha, Tiền Giang 4.500 ha, Sóc Trăng 4.100 ha, Kiên Giang 1.600 ha, Long An 800 ha, Cà Mau 600 ha. Diện tích lúa đông xuân bị thiệt hại do hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn chủ yếu ở những nơi xuống giống muộn sau tháng 12/2019, do người dân tự phát thực hiện, không theo khuyến cáo của cơ quan chuyên môn.

Riêng diện tích cây ăn quả bị ảnh hưởng do khô hạn, xâm nhập mặn khoảng 6.650 ha, gồm: Long An 2.397 ha, Tiền Giang 2.297 ha, Bến Tre 931 ha, Vĩnh Long 740 ha, Trà Vinh 267 ha, Sóc Trăng 18 ha, trong đó thiệt hại mất trắng khoảng 355 ha.

Cây rau màu, diện tích bị ảnh hưởng khoảng 1.241 ha, trong đó Long An 100 ha, Tiền Giang 810 ha, Bến Tre 168 ha, Trà Vinh 87 ha, Sóc Trăng 44 ha, Cà Mau 32 ha, trong đó thiệt hại mất trắng 541 ha.

Đối với nuôi trồng thủy sản, diện tích bị thiệt hại khoảng 8.715 ha nuôi cá truyền thống và tôm, tập trung ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang.

Ảnh hưởng nước sinh hoạt trong đợt hạn, mặn vừa qua khoảng 96.000 hộ. Mặc dù phạm vi ảnh hưởng của xâm nhập mặn cao hơn năm 2015-2016 nhưng số hộ thiếu nước sinh hoạt giảm khoảng 114.000 hộ so với năm 2015-2016.

Chỉ đạo sát sao, giảm thiểu thiệt hại

Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường yêu cầu, thời gian tới, do tác động, thách thức từ biến đổi khí hậu, yếu tố tác động từ thượng nguồn và một số yếu tố khác sẽ tiếp tục tác động tổn thương đến sản xuất, đời sống dân sinh.

Vấn đề cốt lõi là tìm ra những đối tượng sản xuất, phương thức sản xuất phù hợp nhất để không chỉ hạn chế những tác động tiêu cực, mà còn khai thác được những lợi thế, nâng cao giá trị do thay đổi được trục sản xuất, cơ cấu sản xuất theo hướng thích ứng. Đây mới là mục tiêu cuối cùng hướng đến trong phát triển nông nghiệp bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Xâm nhập mặn mùa khô năm 2019-2020 ở khu vực ĐBSCL ở mức nghiêm trọng nhất trong lịch sử. Tuy nhiên, mức độ gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp và dân sinh được giảm thiểu đáng kể. Từ mùa hạn mặn này chúng ta đúc kết được những bài học quý giá cho thời gian tới.

Trước hết, việc dự báo xâm nhập mặn được thực hiện tốt; trong đó, việc nhận định sớm thời điểm xâm nhập mặn giúp việc bố trí cơ cấu sản xuất nông nghiệp phù hợp với tình trạng nguồn nước.

Cùng với đó, sự chỉ đạo điều hành sát sao của lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, ngành đã giúp các địa phương và các cơ quan liên quan có kế hoạch thực hiện sớm các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn.

“Chúng ta nhận dạng sớm các thách thức này. Ngay từ tháng 9/2019, Thủ tướng Chính phủ đã triển khai một hội nghị đến các đồng chí lãnh đạo 13 tỉnh ĐBSCL bàn những nhóm giải pháp để ứng phó. Vì vậy, khi xảy ra hạn mặn chúng ta đã giảm thiểu được thiệt hại”, Bộ trưởng nhấn mạnh.

Đặc biệt, sự đồng lòng của cả hệ thống chính trị và nhân dân có kinh nghiệm từ năm 2016 nên rất chủ động ứng phó. Chúng ta đồng bộ nhóm giải pháp các công trình ứng phó hạn, mặn. Đẩy nhanh tiến độ thi công và kịp thời đưa vào sử dụng ngay trong mùa hạn mặn này.

Cùng với đó, việc khoanh vùng, cắt giảm, chuyển đổi thời vụ sản xuất để né mặn, giảm thiểu diện tích cây trồng bị ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Việc nạo vét lấy nước, hệ thống kênh mương, đào ao, giếng, đắp đập tạm ngăn mặn, lắp đặt trạm bơm, đầu tư xây dựng các công trình kiểm soát mặn đóng vai trò rất quan trọng trong kiểm soát và hỗ trợ kiểm soát xâm nhập mặn cho gần 400 nghìn ha đất nông nghiệp, giảm thiểu phần lớn thiệt hại.

Bên cạnh đó, việc bố trí diện tích, cơ cấu thời vụ phù hợp với tình hình diễn biến xâm nhập mặn, nguồn nước là giải pháp hữu hiệu để ứng phó với xâm nhập mặn.

Việc nâng cao nhận thức của người dân về nguy cơ, diễn biến, ảnh hưởng tác động của xâm nhập mặn giúp người dân chủ động có phương án ừng phó, tuân thủ theo khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn, dẫn đến làm thiệt hại giảm thiệt hại rất nhiều.

Đồng thời, việc chủ động tích trữ nước sớm, tại chỗ của người dân ngay trong mùa mưa (bể, bồn, lu, túi đựng nước, thiết bị xử lý nước,…); lắp đặt các vòi nước công cộng; sử dụng các phương tiện di động để chở nước đến từng cụm dân cư, hộ gia đình đã mang lại hiệu quả cao trong việc duy trì nước sinh hoạt tối thiểu cho người dân…

Thanh Hằng – Chinhphu

Nhiều hệ thống siêu thị hỗ trợ đầu ra cho trái vải

Ngày 8-6, Saigon Co.op cho biết, vải thiều Lục Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương) đạt chuẩn VietGAP hoặc chứng nhận trái cây an toàn đã có mặt tại gần 1.000 điểm bán của Saigon Co.op trên toàn quốc, lượng tiêu thụ tăng hơn 20% so với mùa vụ năm ngoái. 

Saigon Co.op cũng tiêu thụ sản phẩm vải tươi đóng hộp có thể bảo quản và sử dụng trong khoảng thời gian dài, giá bán trung bình khoảng 40.000 đồng/hộp. Tương tự, hệ thống siêu thị Big C cũng tiêu thụ 1.000 tấn vải Lục Ngạn – Bắc Giang, gấp 3 lần sản lượng tiêu thụ năm 2019. Đây là năm đầu tiên Big C giới thiệu vải thiều Lục Ngạn của Hợp tác xã nông nghiệp Hồng Xuân, sản phẩm đạt chứng nhận OCOP 4 sao, có tem truy xuất nguồn gốc. Ngoài ra, vụ vải năm 2020, Central Retail tiếp tục xuất khẩu vải thiều Lục Ngạn sang Thái Lan, thông qua việc trưng bày lên quầy kệ của hệ thống đại siêu thị Tops, Central Food Hall (chuỗi kinh doanh bán lẻ thực phẩm của Central Group) để giới thiệu đến người dân thủ đô Bangkok.

HẢI HÀ

EVFTA có hiệu lực nhiều cơ hội cho nông nghiệp

Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA) vừa được Quốc hội thông qua. Với EVFTA, ngành nông nghiệp dự báo sẽ có cơ hội trở thành ngành xuất khẩu chủ lực của nước ta. 

Phóng viên Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Chế biến và Phát triển thị trường nông sản (Bộ NN-PTNT), về lợi thế, thách thức của ngành nông nghiệp Việt Nam trước cơ hội này.

* PHÓNG VIÊN: Theo ông, ngành nông nghiệp Việt Nam có cơ hội, thách thức như thế nào khi EVFTA có hiệu lực?

* Ông NGUYỄN QUỐC TOẢN: EVFTA kỳ vọng sẽ tạo cơ hội cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, mạng lưới sản xuất toàn cầu. DN Việt có khả năng tiếp cận với các thị trường tương đối rộng mở của các nước thành viên Liên minh châu Âu khi hầu hết các ngành hàng (đến 99,2% số dòng thuế) được đưa về mức thuế suất 0%. Đặt trong bối cảnh các đối thủ cạnh tranh của chúng ta tại thị trường châu Âu chưa có hiệp định thương mại riêng với EU thì EVFTA được xem là sẽ tạo ra những lợi ích kép cho DN Việt Nam.

EVFTA còn là cơ hội để Việt Nam chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, hoàn thiện thể chế theo hướng tích cực, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, tranh thủ vốn đầu tư, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, tạo thêm nhiều việc làm trong nước… Một cơ hội lớn khác, khi EU tăng cường hoạt động đầu tư vào Việt Nam sẽ là cơ hội cho nền nông nghiệp Việt Nam tiếp nhận các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, nâng cao hiệu quả sản xuất.

Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn rất nhiều thách thức mà các DN Việt phải vượt qua. Đó là phải đảm bảo tuân thủ các quy định về sở hữu trí tuệ, lao động, kiểm soát gian lận thương mại. Sản phẩm sản xuất phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

* Khi EVFTA thực thi, người tiêu dùng Việt được lợi gì với những mặt hàng nông sản từ các nước EU; đồng thời DN nông nghiệp trong nước sẽ gặp khó khăn trong cạnh tranh như thế nào?

* Khi EVFTA được thực thi, Việt Nam sẽ giảm hầu hết các loại thuế cho hàng hóa của EU vào Việt Nam, trong đó có thực phẩm, đồ uống. Trước hết có thể nói người tiêu dùng Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội sử dụng thực phẩm và đồ uống châu Âu với chất lượng vượt trội, an toàn. Trong bối cảnh người tiêu dùng nước ta lo ngại với các loại thực phẩm kém an toàn, nhiều DN nước ngoài coi đây là cơ hội đầu tư, kinh doanh đầy tiềm năng trong việc sản xuất, phân phối các loại thực phẩm sạch tại Việt Nam.

Cà phê – mặt hàng xuất khẩu hưởng thuế suất 0% ngay khi EVFTA có hiệu lực. Ảnh: CAO THĂNG

Bên cạnh đó, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, hàng hóa chất lượng cao hiện diện tại thị trường trong nước ngày càng dễ dàng với giá cả cạnh tranh, cũng là thách thức để các nhà cung ứng nội địa phải tự thay đổi, đổi mới để nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu các DN Việt Nam không nhanh chóng đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm, thì sản phẩm nhập khẩu sẽ chiếm lĩnh thị trường trong nước.

* Những mặt hàng nông nghiệp Việt nào có lợi thế để tăng tốc phát triển, thưa ông?

* Những mặt hàng Việt Nam đang xuất khẩu thô thì thuế không thay đổi nhiều, do đang ở mức thấp 0% – 5%. Nhưng những mặt hàng đã qua chế biến và chế biến sâu thì thuế sẽ chênh lệch nhiều khi EVFTA có hiệu lực, giảm từ mức trên dưới 10% hiện nay xuống 0%.

Đối với xuất nhập khẩu hàng nông thủy sản, Liên minh châu Âu là đối tác hàng đầu trên thế giới, nhập khẩu rất nhiều sản phẩm nông nghiệp từ các quốc gia trên thế giới. Như vậy, nhiều mặt hàng chiến lược, chẳng hạn thủy sản Việt Nam, sẽ tận dụng được lợi thế từ EVFTA khi hiểu rõ quy định về đảm bảo an toàn thực vật và kiểm dịch động thực vật. Vì vậy, những DN nào tập trung vào khâu đầu tư chế biến sẽ càng thu được nhiều lợi nhuận từ việc cắt giảm thuế.

Để tận dụng được những cơ hội của EVFTA, không chỉ DN mà bản thân cả các cơ quan hoạch định chính sách, hiệp hội ngành hàng, chính quyền địa phương và nông dân cần nâng cao nhận thức để đáp ứng được những tiêu chuẩn mới của EVFTA, sản xuất theo chuỗi giá trị, đáp ứng nhu cầu thị trường, đặt biệt thị trường cao cấp.

* Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, cần làm gì để tận dụng được cơ hội này?

* Đúng là với quy mô sản xuất nhỏ lẻ và không có chứng nhận về vệ sinh an toàn thực phẩm, nông sản Việt Nam khó tiếp cận được với các thị trường có yêu cầu cao như EU. Để có thể tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và đưa hàng nông sản Việt tới được với các thị trường đòi hỏi cao, người sản xuất bất kể ở quy mô lớn hay nhỏ đều phải tham gia vào chuỗi giá trị nông sản, trong đó chất lượng và an toàn thực phẩm phải là vấn đề tiên quyết. Từ đó, mới có thể tận dụng được tốt những cơ hội mà các FTA đem đến. Bên cạnh đó, DN cũng cần chú trọng đến các yếu tố quan trọng khác như tiêu chuẩn về trách nhiệm xã hội, lao động, môi trường… được đặt ra trong nhiều FTA.

Xuất khẩu nông sản Việt Nam hiện đứng thứ 2 Đông Nam Á và thứ 15 thế giới, có mặt tại 185 quốc gia và vùng lãnh thổ; đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy phát triển nông nghiệp hàng hóa, tạo nguồn thu ngoại tệ quan trọng, góp phần giảm nhập siêu cho cả nước. Khi EVFTA có hiệu lực sẽ giúp 99% dòng thuế nhập khẩu giữa hai bên được xóa bỏ trong vòng 7 đến 10 năm. Đáng lưu ý, nhiều mặt hàng được hưởng thuế suất 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực như cà phê, hạt tiêu, mật ong tự nhiên; khoảng 50% số dòng thuế cho thủy sản Việt Nam sẽ được xóa bỏ.

THANH HẢI thực hiện