Nông dân miền Trung vượt khó

Cùng với sự hỗ trợ từ phía chính quyền các địa phương, những phương cách làm ăn thiết thực mà bà con nông dân miền Trung áp dụng ngay trên đồng ruộng đang dần khơi thông khó khăn do dịch Covid-19 gây ra.

Tiểu thương thu mua rau của nông dân xã Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị

Lấy ngắn nuôi dài

Làng Trà Quế (TP Hội An, Quảng Nam) có diện tích trồng rau khoảng 18ha với hơn 200 hộ dân canh tác, mỗi năm cung cấp ra thị trường khoảng 1.000 tấn rau, quả các loại. Bên cạnh thương hiệu nổi tiếng xanh sạch, rau Trà Quế còn được biết đến với hương thơm đặc biệt, không trộn lẫn vào đâu nên nhiều thời điểm cung không đủ cầu.

Ông Nguyễn Súng (tổ 4, thôn Trà Quế) cho biết, từ khi dịch Covid-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, du khách ít đến Hội An nên các nhà hàng tạm ngưng phục vụ, một số siêu thị cũng giảm bớt lượng rau nhập khiến rau của làng tiêu thụ rất chậm, giá cũng giảm 30% so với ngày thường. “Thay vì để rau già cỗi, hư hại, một số hộ dân trong làng đã rao bán rau trên mạng xã hội và áp dụng phương cách giao rau tận nhà… Nhiều gia đình khác còn đến các chợ, thuê mặt bằng và mở sạp rau để thuận tiện cho việc buôn bán, giao hàng đến người tiêu dùng”, ông Súng chia sẻ. 

Còn theo bà Cao Thị Đông, người có thâm niên hơn 40 năm trồng rau tại Trà Quế, ngoài việc duy trì canh tác các luống rau đòi hỏi kỹ thuật cao để khi dịch bệnh qua thì còn có rau cung cấp cho nhà hàng, khách sạn, người làm vườn tại Trà Quế còn linh hoạt lấy ngắn nuôi dài, chuyển hướng canh tác thêm một số loại rau củ quả khác dễ trồng, gần gũi với nhu cầu thực tế của người dân. “Trước mắt, sẽ cố gắng bán hết lứa xà lách, húng, quế, hành, ngò thường phân phối cho các khách sạn, nhà hàng rồi sau đó chuyển sang trồng rau muống, rau ngót… để bán cho người dân trong vùng”, bà Đông nói.

Trao đổi với phóng viên, Trưởng phòng Kinh tế TP Hội An Nguyễn Thị Vân cho biết, dịch bệnh gây nhiều khó khăn, song lại là cơ hội để nông dân địa phương tái cơ cấu trồng rau, về giống, phương pháp, thị trường theo hướng nâng cao chuỗi giá trị, chất lượng sản phẩm, giữ vững thương hiệu rau Trà Quế. “TP Hội An sẽ có hình thức phù hợp tập huấn cho người dân về quy trình sản xuất an toàn nhằm định hướng cho người dân. Dự kiến khoảng tháng 4 – 5 sẽ tổ chức triển khai toàn bộ làng rau để sản xuất rau an toàn, rau hữu cơ đạt chuẩn”, bà Vân nói.

Đưa nông sản lên sàn kinh tế điện tử

Tại Quảng Trị, để tiêu thụ hơn 10.000 tấn tinh bột sắn và hàng chục tấn chuối bị ùn ứ do không xuất được sang thị trường Trung Quốc, các doanh nghiệp và tư thương tại địa phương này đã tìm kiếm kênh phân phối sang thị trường Thái Lan, Lào. Chị Nguyễn Thị Vy, tiểu thương chợ chuối Tân Long (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị), cho biết, mặt hàng chuối tạm ngưng xuất khẩu qua Trung Quốc, nhưng tiểu thương vẫn duy trì thu mua của bà con với mức giá 3.000 – 5.000 đồng/kg (giảm 2.000 – 3.000 đồng/kg so với trước tết) để đưa đi phân phối tại Hà Nội, Đà Nẵng, TPHCM… hoặc xuất bán qua thị trường Lào, Thái Lan. 

Phó Giám đốc Sở NN-PTNT Trần Thanh Hiền, tỉnh Quảng Trị cho biết, các sản phẩm từ chế biến thủy sản của địa phương cũng gặp nhiều khó khăn do thị trường truyền thống Trung Quốc ngừng nhập khẩu. Hiện cá cơm (mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Quảng Trị) dao động từ 14.000 – 17000 đồng/kg, thấp hơn so với cùng kỳ 5.000 – 7.000 đồng/kg. “Cùng với việc hỗ trợ nông dân chuyển đổi giống cây trồng, xây dựng các mô hình sản xuất thích ứng với điều kiện khô hạn, đơn vị còn đề nghị UBND tỉnh tạo mọi điều kiện cho cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, chế biến sản phẩm nông, lâm, thủy sản tiếp cận nhanh các nguồn vốn hỗ trợ sản xuất”, ông Hiền thông tin.

Tại buổi họp để tìm ra hướng giải quyết khó khăn cho người dân trên địa bàn, Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế Phan Ngọc Thọ yêu cầu các sở ban ngành và chính quyền địa phương phải có ngay những động thái hỗ trợ, giúp bà con. Ông Thọ yêu cầu: “Sở NN-PTNT phối hợp các địa phương rà soát, đánh giá các sản phẩm nông sản, thủy sản đang và đã đến kỳ thu hoạch để đề xuất, lựa chọn phương án phân phối, tiêu thụ giúp người dân tháo gỡ khó khăn. Hỗ trợ, hướng dẫn người dân xây dựng kế hoạch tái sản xuất nhằm đảm bảo không làm gián đoạn quá trình sản xuất và cung ứng.

Liên minh hợp tác xã tỉnh triển khai vận hành hệ thống sàn kinh tế hợp tác điện tử tại địa chỉ https://kinhtehoptac.com; phối hợp các địa phương, người dân triển khai việc đưa các mặt hàng lên sàn. Hội Doanh nhân nữ Thừa Thiên – Huế chịu trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương lựa chọn các địa điểm phù hợp như khách sạn, nhà hàng… để hình thành các địa điểm bán lẻ cung cấp cho người dân, ưu tiên lựa chọn điểm đáp ứng đầy đủ yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm, thiết bị bảo quản đông lạnh… Ông Phan Ngọc Thọ còn yêu cầu các địa phương vận động các lực lượng thanh niên, đoàn thể xã hội, doanh nghiệp, cán bộ công nhân viên chức hỗ trợ việc giới thiệu, bán hàng, tiêu thụ; thành lập đội tình nguyện giao hàng hỗ trợ bà con nông dân.

VĂN THẮNG – NGỌC PHÚC – NGUYỄN HOÀNG

Bảo vệ vựa lúa miền Tây

Cuối tháng 3-2020, vựa lúa ĐBSCL đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ hạn mặn xâm nhập. Nhiều diện tích lúa, cây ăn trái các tỉnh ven biển bị thiệt hại.

Song, nhìn trên diện rộng, cùng với những nỗ lực của địa phương và nông dân, ĐBSCL giành thắng lợi trong vụ sản xuất lúa đông xuân với 1,5 triệu ha, sản lượng trên 10 triệu tấn. Điều này rất có ý nghĩa trong bối cảnh dịch Covid-19 lan rộng đe dọa nhiều quốc gia. Vấn đề đảm bảo an ninh lương thực được đặt lên hàng đầu.  

Tại cuộc họp Thường trực Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực trong bối cảnh tác động của dịch Covid-19 ngày 23-3 vừa qua, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Đảm bảo an ninh lương thực là nhiệm vụ hết sức quan trọng của đất nước và không được để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, giá cả leo thang, ảnh hưởng tới đời sống của người dân, tác động đến chỉ số giá tiêu dùng. Để chủ động đảm bảo lương thực cho chế biến, tiêu dùng và dự trữ trong nước, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ NN-PTNT tiếp tục theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, thiên tai, tình hình sâu bệnh để tập trung chỉ đạo sản xuất nông nghiệp, bảo đảm năng suất, chất lượng, đủ nguồn cung lương thực theo kế hoạch sản xuất.   

Vựa lúa miền Tây đang là vùng đất dễ tổn thương: hạn mặn xâm nhập, phải chắt chiu từng giọt nước ngọt sinh hoạt và tưới cho vườn cây; sạt lở, sụp lún đường giao thông, đê biển ở khu vực bán đảo Cà Mau. Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng để thích ứng với biến đổi cây trồng hiện nay là vô cùng cấp bách. Trong đó, cần hạn chế trồng lúa ở những vùng có nguy cơ rủi ro cao. Nông dân miền Tây cần những giải pháp hỗ trợ đồng bộ từ Chính phủ và các địa phương, đó là hoàn chỉnh các hệ thủy lợi phục vụ tưới tiêu cho từng vùng sản xuất; triển khai nhanh và rộng các mô hình sản xuất tiên tiến như trồng lúa thông minh (gắn thiết bị thông minh đo mực nước trên mặt ruộng, hệ thống điều khiển bơm nước tự động) mà nhiều nông dân Đồng Tháp, Trà Vinh, Hậu Giang áp dụng; nhân rộng các giống lúa thích nghi, chống chịu mặn.

Quan trọng là tìm mọi cách lưu giữ và hấp thụ nguồn nước mùa mưa lũ, đặc biệt tập trung cho 2 vùng trũng lớn nhất ĐBSCL là vùng Tứ giác Long Xuyên và vùng Đồng Tháp Mười. Bộ NN-PTNT và lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp, An Giang cần có quyết sách giảm hoặc tốt nhất là bỏ làm lúa vụ 3 (mùa mưa lũ), tháo khoán cho nước vào vùng đê bao để tích nước ngọt mùa mưa, điều tiết lại mùa khô.

CAO PHONG

Bước khởi đầu hứa hẹn

Tỉnh Tây Ninh đang triển khai mô hình điểm phát triển chuỗi giá trị nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC), tập trung vào các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như xoài, dứa, chanh dây và mãng cầu VietGAP. 

Trồng bưởi ứng dụng công nghệ cao tại Tây Ninh

Hướng đi mới này sẽ tạo được sự đột phá trong định hướng cơ cấu cây trồng, dần đưa sản phẩm nông nghiệp vươn xa hơn vào thị trường quốc tế.

Tập trung vào cây trồng chủ lực

Tỉnh Tây Ninh sẽ thu hồi 800ha đất ở một số nông trường quốc doanh để tạo điều kiện thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển NNCNC. Hiện đã có 10 nhà đầu tư trong và ngoài nước tiến hành ký cam kết đầu tư phát triển NNCNC tại Tây Ninh, với tổng vốn đầu tư khoảng 15.000 tỷ đồng. Tỉnh sẽ tiếp tục mở rộng diện tích đất phát triển NNCNC khoảng 2.000ha tại các doanh nghiệp, gồm Công ty Mía đường Nước Trong, Công ty Cao su 1-5, Công ty Cao su Thanh niên xung phong, Công ty Cao su 30-4, Công ty TNHH một thành viên Bò sữa Việt Nam, Công ty Mía đường Thành Thành Công.

Tỉnh cũng phát triển thêm vùng rau an toàn ứng dụng công nghệ cao với diện tích 600ha ở xã Bàu Đồn (huyện Gò Dầu); xã Phước Minh (huyện Dương Minh Châu); xã Trường Đông (huyện Hòa Thành); xã Tiên Thuận (huyện Bến Cầu); xã Thành Long (huyện Châu Thành) và xã Mỏ Công (huyện Tân Biên).

Chủ trương định hướng phát triển NNCNC tại Tây Ninh được quán triệt, triển khai đồng bộ từ tỉnh, huyện và nhất là cấp xã. Bởi lẽ, đây là cấp chính quyền gần dân nhất, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng, nguồn lực tài nguyên thiên nhiên và con người ở khu vực mình quản lý. Cấp xã sẽ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân hưởng ứng, tham gia vào tái cơ cấu ngành nông nghiệp bằng những việc làm hết sức cụ thể; phân tích cho nông dân nhận thấy sự bất lợi, thua thiệt khi sản xuất manh mún, quy mô nông hộ nhỏ lẻ, không theo quy trình khoa học, tiêu chuẩn VietGAP.

Vừa qua, UBND tỉnh Tây Ninh tổ chức hội thảo quốc tế về nâng cao chuỗi giá trị NNCNC hội nhập quốc tế thí điểm tại Tây Ninh, đã mời đến tận xã phường tham dự. Hướng về cơ sở, là hướng về xã phường và đến từng hộ nông dân, bởi họ là chủ thể trực tiếp sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao, cung ứng cho thị trường nguyên liệu và thị trường tiêu dùng. Vai trò của nông dân là yếu tố rất quan trọng. 

Trung tâm Khuyến nông tỉnh Tây Ninh đã triển khai thực hiện 5 mô hình trồng dứa cho người dân, với tổng diện tích gần 5ha. Cụ thể là mô hình trồng dứa Queen của ông Nguyễn Văn Sáu, diện tích 1ha, trên vùng ruộng trũng, phèn tại xã Bình Thạnh (huyện Trảng Bàng). Ông Sáu đã trồng 40.000 chồi giống trên đất ruộng phèn, theo ước tính, năng suất mỗi năm là 35 tấn/ha. Ngoài giống dứa Queen, người dân còn trồng dứa giống Cayen MD2, đó là mô hình của ông Hồ Thanh Tùng (xã Tân Hội, huyện Tân Châu).

Trên diện tích nửa mẫu đất, ông Tùng trồng 15.000 cây dứa, năng suất dự kiến 30-40 tấn/ha. Còn tại xã Lợi Thuận (huyện Bến Cầu), mô hình trồng dứa với diện tích lớn nhất từ trước đến nay tại tỉnh là của ông Dương Văn Thanh. Với diện tích 35ha dứa, giá dứa 6.000 đồng/kg, mỗi năm ông Thanh lãi gần 3 tỷ đồng.

Gắn sản xuất với nhà máy

Trước đây, thị trường tiêu thụ đầu ra cho cây dứa của ông Thanh cũng như người dân địa phương hoàn toàn phụ thuộc vào thương lái. Vì vậy, ông đã tìm đến Nhà máy Tanifood – nơi cần 500 tấn nguyên liệu/ngày. Và để có nguồn nguyên liệu, doanh nghiệp này đã tìm đến nông dân trồng dứa để đặt hàng và nhận bao tiêu toàn bộ đầu ra cho cây dứa. Ông Đinh Hùng Dũng, Phó Tổng giám đốc Công ty cổ phần Lavifood, nói về chính sách thu mua dứa tại tỉnh Tây Ninh: “Công ty đã ký hợp đồng mua dứa với ông Thanh, diện tích 35ha. Để tính giá thành mua, công ty dựa trên 2 cơ sở, là căn cứ thị trường nguyên liệu và thị trường đầu ra, từ đó định giá nguyên liệu chúng tôi sẽ mua”.

Tây Ninh có tổng diện tích trồng cây ăn trái trên 16.400ha, trong đó có các loại cây phổ biến như cam, quýt, chuối, mãng cầu, sầu riêng, xoài, chôm chôm, thanh long và dứa. Đặc biệt, cây dứa được đánh giá có hiệu quả kinh tế cao hơn 5 lần so với sản xuất lúa 2 vụ/năm; cao hơn gấp 4 lần so với cây mì và gấp 15 lần so với cây mía. Theo ông Võ Đức Trong, Giám đốc Sở NN-PTNT tỉnh Tây Ninh, để phát triển nền NNCNC, Tây Ninh đã đề xuất chỉ tiêu cụ thể, tái cơ cấu ngành, tăng giá trị gia tăng các sản phẩm, hình thành chuỗi giá trị, chuyển đổi mô hình sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tập trung nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước với mục tiêu chuyển đổi cơ cấu cây trồng, từ cây có giá trị kinh tế thấp sang trồng các loại cây mang hiệu quả kinh tế cao.

NGUYÊN VŨ

Lạ mà hay: Trồng nấm rơm dạng trụ, nấm mọc la liệt bán lại đắt

Thời gian gần đây, nhiều mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của huyện Châu Thành đã và đang được nhân rộng. Trong đó, điển hình là mô hình trồng nấm rơm dạng trụ của hộ anh Dương Văn Tài, nông dân ấp Hòa Lợi 3, xã Vĩnh Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.

Tôi đến thăm mô hình trồng nấm rơm hình trụ của anh Dương Văn Tài vào những ngày cuối tháng 11/2019. Anh Tài đang tất bật vận chuyển rơm cuộn để trữ rơm cho những vụ nấm tiếp theo.

Mùa này đang thu hoạch lúa vụ Thu Đông, những ai đang trồng nấm rơm phải tranh thủ vựa rơm. Để có nguyên liệu đạt yêu cầu, anh đã hợp đồng với chủ máy cuốn rơm, rơm cuộn phải khô thì thời gian trữ mới lâu và không bị hư.

Trồng nấm rơm dạng trụ, gia đình anh Tài thu hoạch được nhiều nấm rơm hơn cùng khối lượng nguyên liệu và diện tích.

Anh Tài cho biết: “Trước đây tôi trồng nấm rơm ngoài trời nhiều năm liền. Với diện tích mỗi năm khoảng 600 công rơm. Tuy nhiên, từ năm 2008 diện tích thu hoạch lúa bằng máy cuốn rơm tăng,  làm cho người trồng nấm như tôi thấy khó khăn trong khâu thu gom rơm, lợi nhuận mô hình trồng nấm rơm ngoài trời không cao, mức độ ảnh hưởng từ thời tiết nhiều, khi trúng khi thất, từ đó hiệu quả bấp bênh nên tôi không thực hiện nữa…”.

Năm 2017, anh Dương Văn Tài chuyển qua mô hình trồng nấm rơm trong nhà bằng dạng kệ, hiệu quả cao hơn gấp đôi so với trồng nấm rơm ngoài trời. Tuy nhiên, qua nhiều vụ nấm cho thấy  trồng nấm rơm trong nhà bằng dạng kệ có nhiều điểm chưa phù hợp.

Với cách bố trí mỗi giàn kệ có 3-4 tầng, nhà trồng nấm rơm có từ 2-3 giàn kệ nên ảnh hưởng đến độ thông thoáng, hay xảy ra tình trạng ngộp, nấm chỉ tập trung ra những tầng phía dưới, tầng trên cho nấm kém. Mặt khác, chi phí đầu tư kệ cũng khá cao và gây khó khăn cho khâu vệ sinh trại.

Thêm vào đó, lượng nguyên liệu đưa vào các tầng kệ cho một vụ nấm rơm không nhiều. Nhà trồng có diện tích 40 m2, đầu tư 2 giàn kệ, mỗi giàn kệ có 3 tầng thì lượng rơm sử dụng để chất nấm khoảng 20 cuộn (mỗi cuộn tương đương 15 kg rơm), nên chưa tận dụng tối đa hiệu quả diện tích nhà trồng nấm.

Trồng nấm rơm dạng trụ, gia đình anh Tài vừa dễ thu hoạch, chăm sóc, bấm rơm đẹp, bán với giá cao hơn so với trồng nấm rơm ngoài trời, trồng nấm rơm dạng kệ.

Đến tháng 05/2019, nhờ sự hỗ trợ kỹ thuật của trạm Khuyến Nông huyện Châu Thành, anh Tài mạnh dạn đầu tư 1 nhà trồng nấm theo dạng trụ và 1 nhà trồng theo dạng kệ để đối chứng, mỗi nhà có diện tích 42 m2.

Sau thời gian thực hiện gần 1 tháng , năng suất nấm theo dạng trụ đạt được khá cao 4,2kg/ trụ/1,4 cuộn rơm. Với diện tích 42 m2/30 trụ rơm thu được 126kg, sau khi trừ chi phí lợi nhuận mang lại hơn 3,5 triệu đồng.

Đối với nhà trồng theo dạng kệ anh Tài chỉ thu được 43kg nấm/36m mô, lợi nhuận đối với nhà trồng dạng kệ khoảng 500.000 đồng/vụ.

Thấy được hiệu quả của mô hình trồng nấm rơm dạng trụ, anh Tài đã tiếp tục đầu tư thêm 3 trại, đến nay sau 5 vụ trồng liên tục nhưng năng suất nấm rơm vẫn ổn định.

Với quy trình sản xuất nấm rơm an toàn, không sử dụng hóa chất trong suốt quá trình sản xuất nên chất lượng sản phẩm nấm rơm dạng trụ trong nhà được tăng lên, dễ bán hơn và giá bán cao hơn so với nấm rơm ngoài trời.

Trồng nấm rơm dạng trụ được xem là mô hình mới, vì tận dụng tối đa diện tích nhà trồng, chất rơm theo dạng trụ giúp dễ chăm sóc, dễ thu hoạch và thuận lợi trong khâu vệ sinh trại.

Theo Phạm Thị Như (Cổng TTĐT Sở NN PTNT tỉnh An Giang)

http://tinnongnghiep.com/kinh-te/la-ma-hay-trong-nam-rom-dang-tru-nam-moc-la-liet-ban-lai-dat-106868.html

Đại hội chi bộ Trung tâm Dạy nghề NNCNC

Thực hiện Kế hoạch số 90-KH/ĐUK ngày 06 tháng 12 năm 2019 của Đảng ủy Ban Quản lý Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố về tổ chức Đại hội chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở nhiệm kỳ 2020-2022 và Kế hoạch số 01-KH/CB.TTDN ngày 10/01/2020 của Chi bộ Trung tâm Dạy nghề về tổ chức Đại hội Chi bộ nhiệm kỳ 2020-2022.

Ngày 20/03/2020, Chi bộ Trung tâm Dạy nghề đã tiến hành tổ chức Đại hội Chi bộ lần thứ II nhiệm kỳ 2020-2022. Đến tham dự có đồng chí Đinh Minh Hiệp, Phó Bí thư Đảng Ủy, Trưởng Ban Quản lý Khu NNCNC.

Đại hội đã tiến hành thảo luận, đóng góp ý kiến và thông qua báo cáo chính trị của chi bộ, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội chi bộ nhiệm kỳ 2017 – 2020 và phương hướng, mục tiêu nhiệm kỳ 2020 – 2022; báo cáo kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Chi bộ nhiệm kỳ 2017 – 2020. Các báo cáo đã nêu rõ những kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm; trên cơ sở đó, đề ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện của chi bộ trong nhiệm kỳ 2020 – 2022.

Tại Đại hội Đ/c Đinh Minh Hiệp có phát biểu chỉ đạo nhằm thúc đẩy TTDN ngày càng vững mạnh là đầu mối trong hoạt động dạy nghề nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, Đại hội đã tiến hành bầu Bí thư chi bộ nhiệm kỳ 2020 – 2022. Đồng chí Nguyễn Duy Sơn, được bầu giữ chức vụ Bí thư chi bộ TTDN.

Đại hội kết thúc thành công tốt đẹp

Bến Tre: Dân nuôi gà ta thả vườn phấn chấn, bán xô giá 75 ngàn/ký

Nông dân nuôi gà ta thả vườn tại tỉnh Bến Tre hiện rất phấn khởi vì giá gà ta tăng khoảng 10.000 đồng/kg so với trước, lên ở mức khá cao, giúp người chăn nuôi đạt được mức lợi nhuận rất tốt.

Gà ta loại 1 (gà lông đẹp, khoảng 1,7kg/con trở lên) đang được nông dân tỉnh Bến Tre bán cho thương lái với giá 82.000 đồng/kg, giá bán xô nguyên bầy trên dưới 75.000 đồng/kg.

Mô hình tận dụng vườn dừa để nuôi gà ta thả vườn tại một hộ dân ở xã Thành An, huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre

Với mức giá này, người chăn nuôi gà ta thả vườn có thể kiếm lời từ 30.000-35.000 đồng/con gà sau khoảng 4,5 tháng nuôi.

Như vậy, với số lượng đàn gà ta thả vườn khoảng 1.000 con, người nuôi có thể kiếm lời 30-35 triệu đồng, thậm chí cao hơn. Nhiều nông dân tại tỉnh Bến Tre đã tận dụng các diện tích vườn dừa cho bóng mát để bao lưới xung quanh, thả nuôi gà ta.

Bên cạnh việc tận dụng các vật liệu “cây nhà, lá vườn” để làm chuồng cho gà giảm chi phí đầu tư, nông dân còn sử dụng các chuồng heo bỏ trống sau dịch bệnh tả heo châu Phi để làm chỗ ngủ và tránh mưa cho gà nuôi thả vườn.

Nguồn: Danviet.vn

http://www.hoinongdan.org.vn/sitepages/news/1074/91131/ben-tre-dan-nuoi-ga-ta-tha-vuon-phan-chan-ban-xo-gia-75-ngan-ky

Chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp ảnh hưởng như thế nào đến lợi nhuận của người sản xuất

Theo dõi sâu hại để xác định chiến lược IPM. Ảnh: Ronald Stephenson

Một nghiên cứu của Đại học Mississippi đã được công bố trong bài báo “Hiệu quả kinh tế của các chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp đối với sản xuất cà chua quy mô nhỏ ở Mississippi” trên tạp chí trực tuyến HortTechnology.

Ronald Stephenson và một nhóm các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu kỹ các chiến lược quản lý sâu hại (bao gồm phun thuốc trừ sâu theo lịch phun thuốc, phun thuốc trừ sâu dựa trên ngưỡng gây hại và áp dụng các biện pháp phòng trừ hữu cơ dựa trên ngưỡng gây hại) để xác định rõ hơn tác động của các chiến lược này đối với hiệu quả kinh tế của người trồng cà chua.

Việc theo dõi các loài sâu hại là không hề dễ, vì vậy người nông dân thường phun thuốc trừ sâu theo lịch trình như kinh nghiệm của họ. Tuy nhiên, đôi khi lịch trình này không hiệu quả vì sự thay đổi theo mùa trong quần thể dịch hại. Phun thuốc trừ sâu không đúng thời điểm vừa tốn kém vừa có thể ảnh hưởng đến các loài công trùng thiên địch có ích mà không trừ được sâu hại chủ đích, điều này làm cho dịch hại càng trầm trọng thêm.

Sự phát triển của các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là để góp phần giảm tác động của thuốc trừ sâu đến môi trường và sức khỏe con người. Yếu tố quan trọng của các chương trình này liên quan đến việc quan sát các quần thể dịch hại trên đồng ruộng để xác định chính xác thời gian phun thuốc trừ sâu. Trọng tâm của khái niệm IPM là việc sử dụng ngưỡng kinh tế của mật độ sâu hại, tại thời điểm đó phun thuốc trừ sâu là phù hợp nhất.

Các chương trình IPM đã thành công rộng rãi trong việc giảm sử dụng thuốc trừ sâu làm tăng lợi nhuận cho người trồng. Tuy nhiên, để xác định được ngưỡng kinh tế đòi hỏi sự hiểu biết về giá trị thị trường cây trồng, đôi khi sự khó đoán trước và biến động của thị trường dẫn đến các ngưỡng kinh tế có thể khó áp dụng. Do đó, các ngưỡng gây hại đã được phát triển dựa trên mật độ sâu hại tại đó sâu hại ảnh hưởng dẫn đến giảm số lượng hoặc chất lượng cây trồng.

Trong nghiên cứu này, các chiến lược quản lý sâu dựa trên ngưỡng (bao gồm sử dụng thuốc trừ sâu thông thường và chỉ sử dụng thuốc trừ sâu hữu cơ), được so sánh với phương thức phun thuốc trừ sâu theo lịch về năng suất, chi phí quản lý và giá trị sản xuất của cà chua. Để đánh giá lợi ích kinh tế của các chiến lược quản lý, chi phí đầu vào liên quan đến quản lý dịch hại côn trùng đã được ghi chép lại. Chi phí của tất cả các thuốc trừ sâu được tính bằng cách đo khối lượng thuốc trừ sâu được sử dụng. Lượng thời gian liên quan đến lấy mẫu côn trùng và phun thuốc trừ sâu cũng được ghi lại và chi phí lao động đã được tính toán. Các chiến lược quản lý côn trùng được đánh giá về tác động của chúng đối với năng suất, chi phí quản lý và lợi nhuận kinh tế đối với sản xuất cà chua quy mô nhỏ ở Mississippi.

Những yếu tố này được so sánh qua các vụ Xuân và vụ Thu trong hai năm sản xuất. Kết quả cho thấy tổng sản lượng và sản lượng đưa ra thị trường cao nhất thu được từ mô hình sử dụng thuốc trừ sâu dựa trên ngưỡng gây hại. Phương pháp quản lý này không ảnh hưởng đến năng suất so với phương pháp phun thuốc trừ sâu theo lịch. Tỷ lệ trái cây bị loại thải không bán được cao hơn từ phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu hữu cơ dựa trên ngưỡng gây hại, do hiệu quả kiểm soát thấp hơn. Chi phí sản xuất cho mô hình hữu cơ này cũng lớn hơn do số lượng thuốc hữu cơ sử dụng tăng lên. Lợi nhuận kinh tế cho cả quản lý dịch hại côn trùng dựa trên ngưỡng sử dụng thuốc trừ sâu thông thường và thuốc hữu cơ cao hơn so với phương pháp phun thuốc trừ sâu theo lịch.

Lợi nhuận kinh tế tăng đối ở mô hình quản lý phun thuốc sâu dựa trên ngưỡng thông thường là do năng suất tăng. Tăng lợi nhuận ở mô hình quản lý phun thuốc hữu cơ theo ngưỡng là từ giá bán cao hơn của cà chua được trồng hữu cơ. Việc áp dụng quản lý dịch hại côn trùng dựa trên ngưỡng gây hại của các nhà sản xuất quy mô nhỏ có khả năng tăng hiệu quả và giá trị sản xuất, cũng như tăng tính bền vững môi trường của sản xuất. Tính khả thi về kinh tế của sản xuất hữu cơ đòi hỏi phải tiếp cận các thị trường sẵn sàng trả giá cao hơn đáng kể cho sản phẩm hữu cơ. Giá bán cao cho cà chua hữu cơ là đủ để mang lại lợi nhuận kinh tế cao hơn so với mô hình quản lý phun thuốc sâu theo lịch, mặc dù chi phí quản lý dịch hại côn trùng hữu cơ có cao hơn.

Cả hai phương pháp sử dụng thuốc trừ sâu thông thường và thuốc hữu cơ dựa theo ngưỡng gây hại đều mang lại tỷ suất tổng lợi nhuận lớn hơn so với phun thuốc sâu theo lịch. Quản lý dịch hại sử dụng phun thuốc trừ sâu dựa trên ngưỡng gây hại góp phần tăng năng suất cà chua, giảm chi phí quản lý côn trùng và cải thiện lợi nhuận kinh tế so với các chiến lược khác.

Ông Stephenson khẳng định “Áp dụng các chiến lược quản lý dịch hại côn trùng dựa trên ngưỡng có khả năng tăng lợi nhuận cho các nhà sản xuất quy mô nhỏ, đồng thời giảm lượng thuốc trừ sâu được áp dụng. Quản lý dịch hại côn trùng là một phần của bức tranh tổng thể về tính bền vững và chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu để xác định các biện pháp khác có lợi cho người trồng rau”.

Lê Thị Thanh theo Phys.org

http://iasvn.org/homepage/Chien-luoc-quan-ly-dich-hai-tong-hop-anh-huong-nhu-the-nao-den-loi-nhuan-cua-nguoi-san-xuat-13053.html

Ứng dụng giúp giảm phát thải khí nhà kính cho chăn nuôi

Một ứng dụng được các nhà khoa học của Đại học California Davis xây dựng và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện chăn nuôi ở Việt Nam sẽ giúp giảm phát thải khí nhà kính cho ngành chăn nuôi bò sữa.

Ngành sữa đang tăng trưởng nhanh và được dự báo vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Nhưng đàn bò sữa 300.000 hiện nay (dự kiến sẽ đạt 400.000 trong 2020) lại có thể tạo ra thêm gánh nặng về xử lý môi trường. Vì thế, “khi ăn một cân thịt chúng ta không thể chỉ nghĩ đến lượng dinh dưỡng, protein đóng góp cho cơ thể mà còn phải tính đến lượng khí thải ra môi trường trong quá trình tạo ra miếng thịt ấy”, ông Tống Xuân Chinh – Phó Cục trưởng Cục chăn nuôi, Bộ NN&PTNN nói tại sự kiện giới thiệu kết quả Dự án tăng cường năng lực cho Chương trình chiến lược phát triển phát thải thấp, Do Bộ NN&PTNT tổ chức vào ngày 27/2.

Đặc điểm sinh lý của các loài động vật nhai lại như trâu, bò, quá trình lên men dạ cỏ trong khi tiêu hóa của chúng đã tạo ra khí metan CH4 – một loại khí có khả năng làm tăng hiệu ứng nhà kính và làm gấp hàng chục lần so với khí CO2. Do vậy, “sản xuất 1kg thịt bò sẽ tạo ra lượng khí thải tương đương với 295 kg khí CO2, 1kg sữa sẽ tương đương với 87kg khí nhà kính (còn 1kg thịt lợn thì khoảng 55kg khí)”, ông Tống Xuân Chinh cho biết.

Nhằm góp phần kiểm soát, giúp giảm phát thải khí nhà kính trong chăn nuôi, Cục Chăn nuôi của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và đại học California Davis đưa phần mềm PC Dairy VN 2019 thiết lập khẩu phần thức ăn vào trong chăn nuôi ở Việt Nam. Đây là một phần của dự án tăng cường năng lực cho các chương trình Chiến lược phát triển phát thải thấp (ECLEDS) giai đoạn năm 2018 – 2019.

Ảnh minh họa: Hộ chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì, Hà Nội. Nguồn: Hà nội mới.

PC Dairy VN 2019 đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt và được sửa đổi để phù hợp với điều kiện sinh thái, các giống nhiệt đới và các loại thức ăn theo mùa và các khu vực khác nhau ở Việt Nam. Phần mềm này cho phép người dùng sử dụng một cơ sở dữ liệu về thức ăn nhằm thiết lập được một khẩu phần ăn phù hợp với một giá thành thấp nhất dựa trên các thông số như trọng lượng bò, giai đoạn sinh trưởng, sản lượng sữa, tỉ lệ mỡ sữa, sự thay đổi khối lượng, giá thức ăn và giá sữa. Phần mềm cũng tận dụng được nguồn thức ăn thô xanh tại địa phương hay các phế phụ phẩm tại chỗ của lúa, ngô, sẵn, v.v…, giúp cắt giảm chi phí mua thêm thức ăn tinh cho vật nuôi. Không chỉ vậy, PC Dairy VN 2019 còn có thể tính toán được lượng khí metan thải ra khi đàn bò sử dụng khẩu phần ăn này. Đây được đánh giá là một tính năng quan trọng và đặc biệt hữu ích trong bối cảnh các ngành chăn nuôi của Việt Nam đang nỗ lực thực hiện giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và giảm phát thải khí nhà kính.

Để có cơ sở dữ liệu làm đầu vào cho phần mềm, nhóm phát triển phần mềm đã tổng hợp hơn 1100 mẫu thức ăn, bao gồm 160 mẫu được thu thập trực tiếp tại 8 tỉnh thành và 994 mẫu chuyển đổi từ các dữ liệu hiện có. Không chỉ hữu ích cho phần mềm thiết lập khẩu phần, bộ dữ liệu về thành phần và giá trị dinh dưỡng của các loại thức ăn này có thể được chuyển cho các bên trong chuỗi ngành hàng sữa có thể sử dụng.

Bà Hà Thúy Hạnh – Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia nhận định, khi đưa vào ứng dụng, phần mềm này sẽ giúp đảm bảo được cả 3 yếu tố về hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường và hiệu quả xã hội khi giúp tăng năng suất, giảm chi phí, tăng thu nhập cho người dân và giảm thiểu được lượng khí thải từ chăn nuôi nông nghiệp.

Dự án đã tổ chức hội thảo giới thiệu về phần mềm cho 273 đại lý khuyến nông, nhà sản xuất tại Hà Nội và TP.HCM, tập huấn và đưa vào giảng dạy cho gần 4000 sinh viên ngành Chăn nuôi tại học viện Nông nghiệp Việt Nam. “Đây cũng là bước khởi đầu, là lần đầu tiên giúp người nông dân hiểu về hiệu ứng nhà kính trong chăn nuôi. Trước đây các dự án thường tập trung vào vấn đề sản xuất lúa nhưng chưa có dự án nào về phát thải trong chăn nuôi ở Việt Nam”, bà Hạnh nói thêm.

Mới bước đầu được đưa vào áp dụng cho một số hợp tác xã, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ nên dự kiến thời gian tới có thể đánh giá được hiệu quả thực tiễn của phần mềm. Tuy nhiên nhóm phát triẻn phần mềm cho biết, PC Dairy VN 2019 vẫn còn một số hạn chế như cơ sở dữ liệu về mẫu thức ăn thu thập trực tiếp tại các địa phương còn ít, chưa đại diện được cho tất cả các vùng; có những mẫu thức ăn hiện có trong thực tế nhưng chưa thể tổng hợp được do không có kinh phí; các dữ liệu về thức ăn chuyển đổi từ sách hoặc các nguồn có sẵn đã khá cũ, có thể không còn phù hợp ở thời điểm hiện tại.

Để phần mềm được sử dụng hiệu quả, theo bà Hoàng Thị Thiên Hương – đại diện cục Chăn nuôi, trước mắt cần hoàn thiện hóa phần mềm cho phù hợp với điều kiện nhiệt đới và loài bò của Việt Nam; bổ sung và cập nhật thêm nhiều dữ liệu về thức ăn cho bò sữa và bò thịt; tập huấn thêm cho cán bộ kỹ thuật tại địa phương – những người có liên hệ chặt chẽ và trực tiếp hướng dẫn người chăn nuôi; đồng thời cần có đánh giá sử dụng phần mềm trong thực tiễn sản xuất để cải tiến cho phù hợp hơn.

Mỹ Hạnh – KHPT.

http://iasvn.org/homepage/Ung-dung-giup-giam-phat-thai-khi-nha-kinh-cho-chan-nuoi-13068.html

Sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở Ấn Độ và bài học cho Việt Nam

Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp cao tại Ấn Độ

Trước những năm 60 của thế kỷ trước, Ấn Độ có nền nông nghiệp kém phát triển. Sau đó, ngành nông nghiệp quốc gia này đã có những hướng đi đột phá, khởi đầu là cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất được khởi xướng đầu tiên vào năm 1963, tập trung vào phát triển công nghệ nông nghiệp với việc đưa hạt giống năng suất cao đặc biệt vào trong gieo trồng, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ như việc sử dụng máy móc tiên tiến hơn, kỹ thuật tưới tiêu và phân bón trong khâu đầu vào của sản xuất nông nghiệp. Cuộc cách mạng này đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ nhờ những điều kiện thuận lợi trong quá trình áp dụng, đó là sự phát triển của các công trình thủy lợi, sự sẵn có của các loại phân bón mới và đặc biệt là các chính sách mới của chính phủ như: Trợ cấp kinh phí mua phân bón, thuốc trừ sâu và đầu tư thủy lợi, điện khí hóa các vùng nông thôn, mở rộng mạng lưới đường bộ và thành lập các tổ chức tín dụng nông thôn.

Ảnh minh họa, nguồn Internet

Trên cơ sở thành công cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất, Ấn Độ tiếp tục triển khai cuộc cách mạng xanh lần hai, bao gồm việc áp dụng công nghệvà kỹ thuật canh tác mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, mở rộng cung cấp các yếu tố đầu vào và dịch vụ cho nông dân. 

Sau 5 thập kỷ thực hiện cách mạng xanh, nền nông nghiệp Ấn Độ được thay màu áo mới, đưa đất nước 

từ tình trạng thâm hụt lương thực sang tự cung cấp lương thực, làm thay đổi đáng kể đời sống của người dân nước này.
 
Bên cạnh cuộc cách mạng xanh, Ấn Độ đồng thời tiến hành cuộc Cách mạng trắng (sản xuất sữa) trong những năm 70 của thế kỷ trước, tạo ra sự thay đổi lớn trong chăn nuôi. Đáng chú ý là, cuộc cách mạng này đã đưa Ấn Ðộ trở thành một trong những nước sản xuất và xuất khẩu sữa hàng đầu trên thế giới vào những năm đầu thế kỷ XXI (từ 17 triệu tấn năm 1951, lên 81 triệu tấn năm 2000, 91 triệu tấn năm 2005 và 96,1 triệu tấn năm 2006). Đến nay, mô hình sản xuất sữa đặc thù của Ấn Ðộ được nhiều nước đang phát triển học tập.
 
Cũng trong thời gian thực hiện các cuộc cách mạng về nông nghiệp, cuối thế kỷ XX, Ấn Ðộ bắt đầu công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế lần đầu tiên, trong đó nông nghiệp được coi là lĩnh vực trọng tâm. Theo đó, hàng loạt những biện pháp được Chính phủ áp dụng, trong đó, việc áp dụng công nghệ và kỹ thuật canh tác mới đối với nông nghiệp là yếu tố hàng đầu, có vai trò quan trọng trong việc tăng sản lượng lương thực.
 
Bước sang thế kỷ XXI, Chính phủ Ấn Độ tiếp tục thực hiện cải cách kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp lần hai, công bố chính sách nông nghiệp mới với các nội dung chủ yếu là: Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp; Ưu tiên điện khí hóa nông thôn và thủy lợi; Xóa bỏ bao cấp trong nông nghiệp và đẩy mạnh hợp tác quốc tế về nông nghiệp…
 
Để đạt được mục tiêu đề ra trong chính sách nông nghiệp mới, Ấn Độ đã đưa ra các chính sách đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, gồm:
 
Mở rộng khả năng tiếp cận các công nghệ hiện đại. Ấn Độ đã mở rộng khả năng tiếp cận các công nghệ hiện đại có hiệu quả về chi phí, đặc biệt là công nghệ sinh học nông nghiệp để tạo ra tác động lớn đến chi phí sản xuất và giá cả đối với hàng hóa nông nghiệp. Đồng thời áp dụng máy móc, công cụ tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp, giúp tăng năng suất. Xây dựng hệ thống kho lạnh, dây chuyền vận chuyển đến thị trường nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đến tay người tiêu dùng và giảm thất thoát đến mức nhỏ nhất.
 
Công nghệ hóa thông tin cho nông nghiệp. Chính phủ Ấn Độ sử dụng các công nghệ kỹ thuật số và di động để phát triển dịch vụ hỗ trợ thông tin về nông nghiệp cho nông dân. Bên cạnh đó, các nhà khoa học cũng phát triển một ứng dụng di động “chuyên gia lúa gạo” để cung cấp thông tin cho nông dân về các vấn đề liên quan đến bệnh, giống lúa, nông cụ… Đặc biệt, tháng 4/2016, Ấn Độ đã ra mắt Thị trường nông nghiệp quốc gia điện tử (e-NAM), tích hợp 585 thị trường bán buôn trên khắp Ấn Độ. Ngoài ra, Ấn Độ đã và đang phát triển mạng nông trại điện tử (eFarm) giúp cho người tiêu dùng giảm bớt lo lắng về việc lưu trữ nông sản phẩm.
 
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngay từ giữa thập kỷ XX, Ấn Độ đã thực hiện nghiêm túc việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để phục vụ cho nền nông nghiệp hiện đại. Tại nước này, trường đại học nông nghiệp có ở tất cả 25 bang và 7 lãnh thổ trực thuộc trung ương, trong đó nổi tiếng là Viện nghiên cứu lúa gạo trung ương (CRRI) đã được nâng lên thành Viện nghiên cứu lúa gạo quốc gia.
 
Đầu tư vào nghiên cứu nhu cầu thị trường và cơ sở hạ tầng. Ấn Độ đẩy mạnh việc nghiên cứu nhu cầu thị trường tại các nước nhập khẩu, lên kế hoạch phù hợp về số lượng và chất lượng, đồng thời có chính sách hỗ trợ giá dài hạn cho sản xuất thủy sản, chăn nuôi, và các sản phẩm truyền thống, các sản phẩm làm vườn và chế biến. Bên cạnh đó, tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng để quản lý sau thu hoạch, bao gồm mở rộng đường cao tốc và cải thiện đường giao thông nông thôn.
 
Hỗ trợ nông dân trong vấn đề tạo lập thị trường tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện chính sách này, Ấn Độ  đã phát triển và nâng cấp các Chợ nông sản Gramin (GrAM) được liên kết điện tử với e-NAM, để hỗ trợ cho những người nông dân không có khả năng  giao  dịch  trực  tiếp  tại  APMC  (Ủy  ban  thị  trường  sản xuất nông nghiệp) và các thị trường bán buôn khác. Cùng với đó, Ấn Độ đưa ra “Chiến  dịch  xanh” giúp đưa nông dân đến gần hơn với thị trường thông qua hậu cần, cơ sở chế biến và quản lý chuyên nghiệp, để giải quyết thách thức về biến động giá cả của các mặt hàng nông sản. Bên cạnh đó là một loạt các chính sách như: Giá hỗ trợ tối thiểu; Đề án hỗ trợ giá; Đề án can thiệp thị trường để điều chỉnh nguồn cung trên thị trường…
 
Với những cách làm sáng tạo, ngành nông nghiệp đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, kéo theo sự cải thiện của các lĩnh vực khác của nền kinh tế, góp phần đưa GDP của Ấn Độ tăng hơn 7% mỗi năm.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Từ những thành công của Ấn Độ trong đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Việt Nam. Trong thời gian tới, để việc ứng dụng mạnh mẽ công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả hơn, giúp nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, Việt Nam cần có những giải pháp sau:
 
Thứ nhất, tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu chuyển giao khoa học công nghệ (KHCN)Hiện tại, đầu tư công cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao KHCN và phát triển công nghệ trong nông nghiệp nước ta còn khá thấp. Theo số liệu của Bộ Khoa học và Công nghệ, tổng kinh phí chi cho khoa học công nghệ từ ngân sách Nhà nước năm 2015 là gần 17,4 tỷ đồng, chỉ chiếm 0,41% GDP cả nước. Mức chi này thấp hơn nhiều so với các nước trên thế giới và ngay cả so với các nước trong cùng khu vực ASEAN. Điều này đòi hỏi Việt Nam cần ưu tiên hơn nữa cho đầu tư nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ cho ngành nông nghiệp và dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp; chuyển dịch trọng tâm chính sách khoa học và công nghệ của ngành nông nghiệp từ chỗ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu – triển khai là chủ yếu sang chú trọng đầu tư cho hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu – triển khai.
 
Thứ hai, cần chú trọng về công nghệ thông tin trong nông nghiệp. Giai đoạn 2016-2020, tổng kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu CNTT của cả nước là 1.520 tỷ đồng, trong đó, vốn đầu tư phát triển từ ngân sách trung ương là 844 tỷ đồng, vốn sự nghiệp từ ngân sách trung ương là 273 tỷ đồng và vốn đầu tư phát triển từ ngân sách địa phương là 403 tỷ đồng. Tuy nhiên, con số này chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, đặc biệt trong thời kỳ bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Còn theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2015, trên tổng số 143 quốc gia được xếp hạng, Việt Nam đứng thứ 85 về chỉ số sẵn sàng về hạ tầng mạng (Network Readiness Index). Do đó, cần ưu tiên đầu tư công cho phát triển hạ tầng kết nối, cũng như triển khai có hiệu quả hơn nữa các dịch vụ viễn thông công ích, tăng cường ứng dụng các công nghệ kết nối mới, hiện đại, chất lượng cao, bảo đảm an toàn, đưa ứng dụng CNTT từ thành thị đến nông thôn. Cùng với đó cần hỗ trợ các làng nghề, vùng sản xuất hàng hóa tập trung, hộ sản xuất kinh doanh ứng dụng công nghệ thông tin trong việc quản lý hàng hóa, dịch vụ cũng như quảng bá các sản phẩm của mình trên internet.
 
Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư cho công tác khuyến nông. Đội ngũ cán bộ khuyến nông có vai trò quan trọng, là cầu nối giữa nhà khoa học – nhà nông và đồng hành với nông dân xây dựng nhiều mô hình nông nghiệp công nghệ cao. Hệ thống khuyến nông với những phương pháp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sẽ làm thay đổi cách nghĩ, cách làm của nông dân; khuyến khích, trợ giúp họ áp dụng công nghệ mới vào sản xuất. Tuy nhiên hiện nay, nguồn lực đầu tư cho khuyến nông ở mức tăng nhưng còn hạn chế. Tính đến cuối năm 2016, tổng kinh phí khuyến nông Trung ương và địa phương chỉ ở mức xấp xỉ 238 tỷ đồng, tức là bình quân mỗi hộ nông dân được đầu tư khoảng 27.700 đ/hộ/năm, trong khi mức đầu tư này ở một số quốc gia nông nghiệp trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Philippines, Indonexia,… là 50-80 USD/hộ/năm.
 
Thứ tư, đào tạo nguồn nhân lực cho nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trên thực tế, trình độ chuyên môn của lao động khu vực nông thôn còn khá thấp trong khi hệ thống, chương trình đào tạo còn lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu trong công cuộc đổi mới của nền nông nghiệp. Để đào tạo nguồn nhân lực cao cho việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp thì trước hết cần đổi mới phương pháp đào tạo nghề, đầu tư  cơ sở vật chất, biên soạn giáo trình cập nhật nội dung tiên tiến, cập nhật các thành tựu khoa học kỹ thuật nông nghiệp. Công tác đào tạo nguồn nhân lực cần kết hợp với cơ chế quản lý nhân lực khoa học và công nghệ theo hướng tạo lập thị trường lao động trong hoạt động khoa học và công nghệ.
 
Thứ năm, thiết lập thị trường tiêu thụ sản phẩm. Trong sản xuất nông nghiệp, việc tìm đầu ra cho sản phẩm là vấn đề quan trọng. Để tránh tình trạng nông dân “Được mùa mất giá” hay những đợt giải cứu nông sản như hiện nay thì Việt Nam cần có chính sách hỗ trợ giá, hỗ trợ lãi suất hay cơ chế khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, nâng cấp giao thông, ứng dụng công nghệ thông tin trong tiêu thụ nông sản./.
 

ThS. Vũ Thị Thúy Hằng
Trường Đại học Lâm nghiệp

 
 
Tài liệu tham khảo
1.Bùi Kim Sơn, Nông nghiệp Ấn Độ và cuộc cách mạng xanh, (Agriculture in India).
2.Joshi, Pradnya A (2015), Challenges of agriculture economy of India, The  Business  & Management  Review;  Lon-  don Vol. 5, Iss. 4, (Jan 2015).
3.Madhusudan Ghosh (2002), Trends, Random Walks and Structural Breaks in Indian Agriculture, Indian Journal of Agricultural Economics; Bombay Vol. 57, Iss. 4, (Oct-Dec 2002): 679-697.
      4.Wagh Rahul, Dr. Dongre Anil P (2016), Agricultural Sector: Status, Challenges and it’s Role in Indian Economy, Jour- nal of Commerce and Management Thought; Pune Vol. 7, Iss. 2, (Apr-Jun 2016).
5.http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/nong-nghiep-nong-thon/2015/33777/Chinh-sach-cua-An-Do-doi- voi-nong-nghiep-nong-dan-va.aspx.
6.https://www.thesaigontimes.vn/Home/thegioi/hoso/8699/Nong-nghiep-An-Do-Thanh-tuu-va-bai-hoc.html.

Thuốc trừ sâu gây hại sự phát triển não ong con

Hình ảnh chụp CT não ong nghệ. Ảnh: ĐH Hoàng Gia Luân Đôn

Các nhà nghiên cứu của Đại học Hoàng gia Luân Đôn đã sử dụng công nghệ quét micro-CT để tìm ra các bộ phận cụ thể của não ong nghệ (bumble bee) phát triển bất thường như thế nào khi tiếp xúc với thuốc trừ sâu trong giai đoạn ấu trùng của chúng.

 

Hầu hết các nghiên cứu trước đây đã đánh giá ảnh hưởng của ong trưởng thành tiếp xúc với thuốc trừ sâu vì những con ong này hút trực tiếp mật hoa và phấn hoa bị nhiễm thuốc trừ sâu. Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy ong con cũng có thể cảm nhận được ảnh hưởng của thức ăn bị nhiễm thuốc trừ sâu mang lại cho đàn, khiến chúng thực hiện công việc kém hơn trong cuộc sống sau này.

Trưởng nhóm nghiên cứu, Tiến sĩ Richard Gill, từ Khoa Khoa học Sự sống tại Imperial, cho biết: “Các đàn ong hoạt động như là côn trùng có tổ chức xã hội cao, vì vậy khi có bất kỳ độc tố nào xâm nhập vào đàn, chúng có tiềm năng gây ra trở ngại cho sự phát triển của những ong con trong đàn”.

“Đáng lo ngại trong trường hợp này, khi những con ong con được cho ăn thức ăn bị nhiễm thuốc trừ sâu, điều này khiến các bộ phận của não phát triển kém hơn, làm cho những con ong này trưởng thành già hơn có bộ não nhỏ hơn và gây hại chức năng não, một ảnh hưởng dường như là lâu dài và không thể đảo ngược được”.

“Những phát hiện này cho thấy những đàn ong có thể bị ảnh hưởng như thế nào sau vài tuần tiếp xúc với thuốc trừ sâu, vì những ong con của chúng phát triển thành những con ong trưởng thành mà không thể tìm được thức ăn phù hợp. Công trình của chúng tôi nhấn mạnh sự cần thiết của hướng dẫn về sử dụng thuốc trừ sâu để xem xét con đường tiếp xúc này”.
Nhóm nghiên cứu đã công bố kết quả của họ trên tạp chí Proceedings of the Royal Society, máy scan CT siêu nhỏ chi tiết được sử dụng để tìm ra những hiểu biết chưa từng có về sự phát triển của não ong dưới tác động của việc tiếp xúc với thuốc trừ sâu.

Đàn ong được cung cấp với chất thay thế cho mật hoa bằng thuốc trừ sâu thuộc nhóm neonicotinoids, một số trong đó bị hạn chế dùng trong EU nhưng được sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Khi ong con phát triển thành con trưởng thành từ nhộng, khả năng học tập của chúng được theo dõi sau 3 ngày, 12 ngày và một số con tiếp tục được chụp não bằng công nghệ micro-CT tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên.

Những kết quả này được so sánh với những ong con từ những đàn không được cho ăn thức ăn có nhiễm thuốc trừ sâu với những con ong chỉ được cho ăn thức ăn nhiễm thuốc trừ sâu ngay khi chúng phát triển như con ong trưởng thành.

Những con ong được cho ăn thuốc trừ sâu khi chúng đang phát triển ở giai đoạn ấu trùng cho thấy tác hại đáng kể đến khả năng học tập so với những con không được cho ăn thức ăn nhiễm thuốc trừ sâu. Các nhà nghiên cứu đã theo dõi điều này bằng cách xem liệu những con ong có thể học cách liên kết mùi với phần thưởng về thức ăn hay không, cho điểm ghi được bao nhiêu lần trong số mười lần thực hiện thành công nhiệm vụ.
Các nhà nghiên cứu đã quét não của gần 100 con ong từ các đàn khác nhau và phát hiện ra rằng những con ong đã tiếp xúc với thuốc trừ sâu cũng có thể tích của bộ phận quan trọng của não nhỏ hơn, được biết đến là một cặp cấu trúc bên trong não (mushroom body).

Cặp cấu trúc bên trong não được biết đến có liên quan đến khả năng học tập ở côn trùng và hoàn thành công việc kém liên quan với thể tích của cặp cấu trúc bên trong não nhỏ hơn. Điều này củng cố đề nghị rằng thể tích của cặp cấu trúc bên trong não nhỏ hơn liên quan đến tiếp xúc thuốc trừ sâu là nguyên nhân dẫn đến sự hoàn thành nhiệm vụ kém của con ong.
Những con ong đã tiếp xúc với thuốc trừ sâu trong giai đoạn ấu trùng phát triển nhưng không phải như là những con ong trưởng thành cho thấy việc hoàn thành nhiệm vụ kém và thể tích của cặp cấu trúc bên trong não nhỏ hơn là tương tự khi được theo dõi ở cả 3 và 12 ngày như con trưởng thành. Điều này cho thấy rằng ít nhất trong vòng chín ngày không được tiếp xúc với thuốc trừ sâu khi chúng trưởng thành, ảnh hưởng của ấu trùng tiếp xúc với thuốc trừ sâu không thể khắc phục được, chỉ ra tiềm năng ảnh hưởng lâu dài.

Tác giả chính của nghiên cứu, Tiến sĩ Dylan Smith, từ Khoa Khoa học Đời sống tại Imperial, cho biết: “Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy thuốc trừ sâu có thể tích tụ bên trong các đàn ong. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những rủi ro đối với từng con ong được nuôi dưỡng“Việc tiếp xúc trực tiếp với thuốc trừ sâu của ong trên các bộ phận của hoa không phải là sự xem xét duy nhất khi xác định tác hại tiềm năng cho đàn. Lượng dư lượng thuốc trừ sâu có trong đàn ong sau khi tiếp xúc dường như là phép đo quan trọng để đánh giá tác động đối với sức khỏe của đàn trong tương lai”.

Nhóm nghiên cứu này trước đây đã đi tiên phong trong việc sử dụng micro-CT để quét não ong và với nghiên cứu này đã chỉ ra cách thức công nghệ này có thể được sử dụng để đánh giá những nghi vấn được áp dụng về mặt sinh thái mà đòi hỏi phải đo đếm cái nhỏ bé nhưng có những khác biệt quan trọng về kích thước và hình dạng.

Nguyễn tiến Hải theo Sciencedaily.

http://iasvn.org/homepage/Thuoc-tru-sau-gay-hai-su-phat-trien-nao-ong-con-13085.html